Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Quan niệm về hộ tịch và đăng ký hộ tịch 1. Quan niệm về hộ tịch Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình.
Công tác quản lý hộ tịch là một tổng thể của nhiều công việc như tuyên truyền giáo dục pháp luật về hộ tịch, tổ chức đăng ký hộ tịch, báo cáo thống kê tăng, giảm dân số, kiểm tra, xử lý vi phạm về đăng ký hộ tịch. Các công việc nêu trên phải được tiến hành thường xuyên tại cơ sở nhằm bảo đảm kịp thời, chính xác đồng thời phải thuận tiện, tránh gây phiền hà cho dân. Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về “Hộ tịch”. Các từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau đã giải nghĩa từ “hộ tịch” như sau: - “Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức vụ và tịch quán của từng người”.9]; - “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ họ, quê quán và chức vụ của từng người”.404]; 8 Luan van - “Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”.
814]; - “Hộ tịch: Sổ biên nhận một số địa phương hoặc cả toàn quốc, trong đó ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”.5]; - “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”. Bên cạnh những cách giải nghĩa nói trên, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn. Dưới đây là một số ví dụ: - “Hộ tịch: Sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ”.5]; - “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật”.5]; - “Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”. Như vậy nghĩa của từ “hộ tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu”.
Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này trong nhận thức xã hội khá phổ biến. Về mặt pháp lý, khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Theo tiếng Việt đây là một khái niệm rất khó để có định nghĩa rõ ràng thống nhất, nên khi sử dụng ngôn ngữ văn bản quy phạm pháp luật để định nghĩa thì việc sử dụng nó cũng không thuận tiện, hơi khó hiểu. Thực tế cho thấy, khái niệm “hộ tịch” chứa đựng các 9 Luan van yếu tố truyền thống, lịch sử thậm chí bao hàm cả thuật ngữ mang tính “Hán Việt” và ngày nay đã trở thành một khái niệm có tính chất thông dụng, phổ thông mà mọi người dân đều có thể hiểu được, nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế từ “hộ tịch” không cần thiết, do đó các nhà làm luật đã dung hòa bằng việc sử dụng khái niệm này bằng thuật ngữ chuyên môn để định nghĩa.
- Theo Quan niệm của các luật gia Việt Nam thời kỳ trướcnăm 1975, khái niệm “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: + Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch – còn gọi là nhân thế bộ – là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử ”.9]; + Các tác giả Vũ Văn Mẫu – Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “hộ tịch”: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”.9]; + Tác giả Trần Thúc Linh, người đã dày công biên soạn cuốn “Danh từ pháp luật lược giải” – vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên được biên soạn một cách khá kỹ lưỡng, toàn diện không đưa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ đưa ra định nghĩa về khái niệm “chứng thư hộ tịch”. Tuy nhiên, khái niệm “chứng thư hộ tịch” của Trần Thúc linh đã hàm chứa trong nói khái niệm về “hộ tịch”: 10 Luan van “Chứng thư hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai, con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng… tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến lúc chết” “Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi về thân trạng người ta (nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hóa con tư sinh, khước từ phụ hệ, ly thân” [6, tr.
- Theo quan niệm khoa học pháp lý nước ngoài: tham khảo một số tài liệu pháp lý nước ngoài, trong khoa học pháp lý một số nước cũng có khái niệm tương đương với khái niệm “hộ tịch” trong tiếng Việt, như thuật ngữ tiếng Anh là “civil registration”, hay trong tiếng Pháp là “registred’etat civil”, tiếng Đức là “personenstandsregister”… Về mặt ngôn ngữ, ba khái niệm này đều có thể chuyển nghĩa sang tiếng Việt là “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”. Trong khoa học pháp lý của các nước theo truyền thống luật thành văn (Continental – hệ thống luật lục địa), đại diện tiêu biểu nhất là Pháp và Đức thì khái niệm “thân trạng” được hiểu là “căn cước, tình trạng dân sự của cá nhân” (tiếng Pháp: état des personnes; tiếng Đức: personenstand). Như đã phân tích ở trên cho thấy về mặt ngôn ngữ học, giữa từ “hộ tịch” được sử dụng trong các văn bản pháp luật nước ta với khái niệm nước ngoài nói trên đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa. Từ khía cạnh pháp lý, khái niệm “hộ tịch” – với tính cách là một thuật ngữ pháp lý thì được định nghĩa trong một số tài liệu nước ngoài như sau: Trong tiếng Anh, khái niệm “civil registration” được hiểu là “việc đăng ký đúng hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định”.
11 Luan van Khái niệm “personenstandsregister” trong tiếng Đức được hiểu là “việc đăng ký công về tình trạng dân sự của mỗi cá nhân được thực hiện bởi các cơ quan hộ tịch. Trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, chế định hộ tịch là một trong những chế định hết sức quan trọng. Tuy nhiên, Luật dân sự Pháp không đưa ra khái niệm về “hộ tịch” mà chỉ đưa ra khái niệm “chứng thư hộ tịch”. Khái niệm “civil registration” được Liên hợp quốc định nghĩa trong tài liệu “Principles and recommendation for a Vital Statistics System” xuất bản năm 2002 như sau: “Đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục, thường xuyên, bắt buộc và toàn bộ các sự kiện và đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”.
Theo Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014:Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết, gồm các sự kiện: - Sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; tử; - Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặchủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự (theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Như vậy, hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản 12 Luan van của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch… Với mỗi vấn đề về hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó, gọi là giấy tờ về hộ tịch.Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế tình trạng nhân thân của mỗi công dân. Giấy tờ về hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Đó là cơ sở chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch. Do tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật quy định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, trình tự, thủ tục đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch.