Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2021–2024 ghi nhận sự chuyển dịch nhân sự mạnh mẽ, đặc biệt trong khối doanh nghiệp xây lắp và kinh doanh bất động sản. Theo số liệu khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà – đơn vị có tổng quy mô 237 người lao động (gồm 28 nhân sự khối quản lý và 209 nhân sự khối thi công) – đã có 36 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động kể từ khi Bộ luật Lao động năm 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự bất đối xứng về vị thế pháp lý và những rủi ro tranh chấp khi các bên thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong môi trường pháp lý mới.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng các quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019, đồng thời đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà từ năm 2021 đến năm 2024. Đề tài tập trung làm rõ các rào cản trong thủ tục báo trước, căn cứ chấm dứt hợp pháp và hệ quả tài chính phát sinh. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình đóng góp hệ thống 6 kiến nghị lập pháp và đề xuất chuẩn hóa quy trình nhân sự 5 bước, hướng tới mục tiêu loại bỏ 100% nguy cơ phát sinh khiếu kiện trái luật tại doanh nghiệp và thiết lập sự cân bằng lợi ích hài hòa giữa 2 chủ thể trong quan hệ lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo trong khoa học luật lao động: Lý thuyết tự do thỏa thuận hợp đồng trong nền kinh tế thị trường và Lý thuyết bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ lao động dựa trên cơ chế ba bên. Khung lý thuyết này được đối chiếu trực tiếp với các tiêu chuẩn quốc tế như Công ước số 158 năm 1982 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chấm dứt việc làm (đã có 36 quốc gia phê chuẩn) và Khuyến nghị số 198 năm 2006 của ILO về nhận diện quan hệ việc làm.

Bốn khái niệm pháp lý cốt lõi được định nghĩa và làm rõ bao gồm:

  • Hợp đồng lao động: Sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên nhằm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng lao động trước thời hạn hoặc trước khi công việc hoàn thành.
  • Tính hợp pháp của hành vi chấm dứt: Sự tuân thủ đồng thời cả 2 yếu tố căn cứ luật định và thủ tục thời hạn báo trước theo luật định.
  • Hậu quả pháp lý tài chính: Các nghĩa vụ bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng, trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc theo Điều 46 và trợ cấp mất việc làm theo Điều 47 của Bộ luật Lao động năm 2019.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Lao động năm 1994, 2012, 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP) kết hợp cùng dữ liệu thứ cấp từ hồ sơ nhân sự, bảng lương và các quyết định chấm dứt hợp đồng lao động thực tế tại Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 237 cán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp và 36 hồ sơ giải quyết chấm dứt quan hệ lao động phát sinh trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến tháng 03/2024. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (khảo sát điển hình toàn diện) đối với toàn bộ các trường hợp chấm dứt hợp đồng phát sinh nhằm bảo đảm độ tin cậy tuyệt đối, tránh sai số chọn mẫu.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê định lượng và phương pháp so sánh luật học đối chiếu với pháp luật của CHLB Đức, Nga và Singapore. Lý do lựa chọn việc kết hợp các phương pháp này là nhằm vừa mổ xẻ chính xác bản chất pháp lý của 7 căn cứ người lao động và 7 trường hợp của người sử dụng lao động, vừa đo lường thực tế tác động tài chính của các quyết định nhân sự tại doanh nghiệp xây dựng. Tiến độ thu thập dữ liệu và phân tích được triển khai liên tục trong khung thời gian 3 năm từ 2021 đến 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về bức tranh thực tế tại doanh nghiệp: Trong tổng số 237 lao động của Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà, khối thi công chiếm tỷ trọng áp đảo với 209 người (tương đương 88,19%), trong khi khối quản lý chỉ có 28 người (chiếm 11,81%). Trong 36 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động từ năm 2021 đến 2024, có 35 trường hợp (chiếm 97,22%) được giải quyết thông qua thỏa thuận chấm dứt và chỉ có 01 trường hợp (chiếm 2,78%) người lao động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ hai, bước đột phá về quyền tự do của người lao động: Bộ luật Lao động năm 2019 đã dỡ bỏ hoàn toàn yêu cầu phải có lý do khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, chỉ ràng buộc nghĩa vụ báo trước 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 30 ngày đối với hợp đồng từ 12 đến 36 tháng và 03 ngày làm việc đối với hợp đồng dưới 12 tháng. Đồng thời, luật bổ sung 7 trường hợp người lao động được nghỉ việc ngay lập tức mà không cần báo trước.

Thứ ba, mở rộng quyền quản lý cho người sử dụng lao động: Doanh nghiệp được bổ sung 4 trường hợp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng gồm: người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên, cung cấp thông tin không trung thực khi tuyển dụng, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu, và áp dụng thời hạn báo trước đặc thù 120 ngày cho vị trí quản lý.

Thứ tư, nhận diện các bất cập lập pháp: Tiêu chí xác định người lao động "thường xuyên không hoàn thành công việc" chưa có định lượng cụ thể; quy định "ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động" tại Điều 42 chưa rõ số lượng; và nghĩa vụ buộc nhận lại người lao động làm việc theo Điều 41 khi doanh nghiệp chỉ vi phạm thủ tục báo trước đang tạo ra gánh nặng tài chính bất hợp lý.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ 97,22% trường hợp chấm dứt bằng thỏa thuận cho thấy xu hướng doanh nghiệp và người lao động chủ động lựa chọn giải pháp an toàn để né tránh các rủi ro pháp lý từ thủ tục đơn phương chấm dứt. Toàn bộ dữ liệu này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu lý do chấm dứt hợp đồng (97,22% thỏa thuận so với 2,78% đơn phương) và bảng ma trận đối chiếu 7 căn cứ chấm dứt hợp đồng giữa Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019.

Khi đối chiếu quốc tế, pháp luật CHLB Đức quy định thời hạn báo trước tăng dần từ 4 tuần lên đến 7 tháng dựa trên thâm niên làm việc từ dưới 2 năm đến trên 20 năm, thể hiện tính linh hoạt cao hơn so với cách phân loại chỉ dựa vào loại hợp đồng của Việt Nam. Ngoài ra, mức bồi thường của người lao động khi nghỉ việc trái luật tại Việt Nam (nửa tháng lương cộng tiền lương những ngày không báo trước) là quá thấp, chưa đủ sức răn đe đối với nhân sự ngành xây dựng khi tự ý bỏ công trình. Tại Constrexim Bắc Hà, quy trình nhân sự 4 bước hiện tại bộc lộ lỗ hổng lớn khi thiếu biên bản thanh lý hợp đồng và quyết định nghỉ việc chưa ghi rõ các khoản thanh toán bảo hiểm xã hội, tiền lương tồn đọng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cấp quốc gia: Đề nghị cơ quan lập pháp sửa đổi Điều 42 và Điều 43 Bộ luật Lao động năm 2019 theo hướng quy định rõ tiêu chí định lượng, cụ thể khi có từ 30% tổng số lao động trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng việc làm thì người sử dụng lao động mới bắt buộc phải xây dựng phương án sử dụng lao động. Điều chỉnh khoản 1 Điều 41 theo hướng nếu doanh nghiệp có căn cứ hợp pháp theo Điều 36 nhưng chỉ vi phạm thủ tục báo trước thì không bắt buộc nhận lại người lao động mà chỉ chịu bồi thường khoản tiền tương ứng với số ngày vi phạm. Lộ trình kiến nghị hoàn thiện văn bản trong giai đoạn 2024–2025.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình xử lý nội bộ tại Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà: Ban Giám đốc và Phòng Tổ chức Hành chính cần nâng cấp quy trình xử lý thôi việc từ 4 bước lên 5 bước chuẩn hóa, bổ sung bắt buộc bước 5 về ký kết Biên bản thanh lý hợp đồng lao động nhằm hoàn tất mọi nghĩa vụ tài chính trong thời hạn tối đa 14 ngày làm việc. Quyết định thôi việc cần bổ sung điều khoản liệt kê chi tiết các quyền lợi bảo hiểm và tiền lương chưa chi trả.

Thứ ba, ban hành Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc: Doanh nghiệp cần xây dựng bộ chỉ số KPI cụ thể cho 209 lao động khối thi công và 28 lao động khối quản lý, tiến hành tham khảo ý kiến Công đoàn cơ sở và niêm yết công khai 100% đến từng người lao động trước ngày 31/12/2024 để làm căn cứ chấm dứt hợp đồng minh bạch.

Thứ tư, phát huy vai trò giám sát của Công đoàn cơ sở: Tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp cần duy trì định kỳ 02 đợt tập huấn pháp luật lao động mỗi năm cho đoàn viên, thiết lập kênh tiếp nhận tâm tư nhằm ngăn ngừa từ sớm các trường hợp người lao động tự ý bỏ việc gây xáo trộn tiến độ thi công.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Lãnh đạo và Giám đốc điều hành các doanh nghiệp xây dựng, bất động sản: Tài liệu cung cấp căn cứ chiến lược để xây dựng phương án sử dụng lao động khi tái cơ cấu, phòng ngừa 100% rủi ro bồi thường tài chính do chấm dứt hợp đồng trái luật.

Thứ hai, Trưởng phòng Nhân sự (HR) và Chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Nắm bắt cẩm nang thực hành với quy trình xử lý 5 bước chuẩn hóa, phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá KPI nhân viên và kỹ năng giải quyết quyền lợi trợ cấp thôi việc trong thời hạn luật định 14 ngày làm việc.

Thứ ba, Giảng viên, Nghiên cứu viên và Học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế: Nguồn tài liệu học thuật giá trị cung cấp hệ thống dữ liệu thực tế từ 36 hồ sơ chấm dứt hợp đồng, phân tích chuyên sâu các điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 và so sánh chuẩn mực quốc tế của ILO.

Thứ tư, Cán bộ Công đoàn cơ sở và Tổ chức đại diện người lao động: Nâng cao năng lực tư vấn pháp luật miễn phí, trang bị kỹ năng giám sát quy trình đơn phương chấm dứt hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do hay không? Theo Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có toàn quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần bất kỳ lý do nào. Yêu cầu duy nhất là phải tuân thủ đúng thời hạn báo trước bằng văn bản gồm 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 30 ngày đối với hợp đồng từ 12 đến 36 tháng, hoặc 03 ngày làm việc đối với hợp đồng dưới 12 tháng.

Câu 2: Doanh nghiệp có được quyền cho thôi việc ngay khi nhân viên tự ý bỏ việc 05 ngày liên tục? Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần báo trước nếu người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng, giúp giảm bớt thủ tục kỷ luật phức tạp.

Câu 3: Doanh nghiệp phải chịu chế tài tài chính nào nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật? Theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019, doanh nghiệp phải nhận người lao động trở lại làm việc, trả đủ tiền lương, đóng bảo hiểm cho những ngày không làm việc và bồi thường thêm một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, kèm tiền bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước nếu có.

Câu 4: Những trường hợp nào người lao động được nghỉ việc ngay mà không cần báo trước? Khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định 7 trường hợp người lao động được nghỉ việc ngay không cần báo trước, bao gồm: không được bố trí đúng công việc hay địa điểm đã thỏa thuận, không được trả đủ lương đúng hạn, bị ngược đãi hoặc quấy rối tình dục, và lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định y khoa.

Câu 5: Thời hạn tối đa để các bên thanh toán đầy đủ quyền lợi sau khi chấm dứt hợp đồng là bao lâu? Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, hai bên có trách nhiệm thanh toán toàn bộ tiền lương, trợ cấp thôi việc và bàn giao hồ sơ bảo hiểm. Trong trường hợp bất khả kháng, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không được vượt quá 30 ngày.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ 4 đặc trưng pháp lý cốt lõi của chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện 7 quyền chấm dứt không cần lý do của người lao động và 4 trường hợp mới bổ sung cho người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Khảo sát thực chứng 36 hồ sơ thôi việc tại Công ty Cổ phần Constrexim Bắc Hà, chỉ ra 4 lỗ hổng trong quy trình quản lý nhân sự thực tế.
  • Đề xuất 6 nhóm giải pháp lập pháp quan trọng, nổi bật là việc định lượng tỷ lệ 30% lao động ảnh hưởng tại Điều 42 và sửa đổi chế tài nhận lại lao động tại Điều 41.
  • Thiết lập quy trình quản trị thôi việc 5 bước khép kín kèm biên bản thanh lý hợp đồng áp dụng hiệu quả cho khối doanh nghiệp xây dựng.

Kế hoạch hành động tiếp theo yêu cầu các doanh nghiệp nhanh chóng hoàn thiện quy chế đánh giá công việc nội bộ trước quý 4 năm 2024 và nâng cao năng lực phổ biến pháp luật trong năm 2025. Hãy tham khảo và áp dụng ngay các giải pháp từ luận văn để tối ưu hóa công tác quản trị nhân sự, đảm bảo an toàn pháp lý tuyệt đối cho tổ chức của bạn.