Chương 1 đã thực hiện việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ và NSDLĐ, gồm: Một số vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt HĐLĐ và pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Về lý luận đơn phương chấm dứt HĐLĐ, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là trường hợp HĐLĐ vẫn còn thời hạn nhưng một bên trong QHLĐ quyết định chấm dứt hợp HĐLĐ. Việc bên kia đồng ý hay không đồng ý không ảnh hưởng đến quyết định chấm dứt HĐLĐ của bên này. Bốn đặc điểm của đơn phương chấm đứt HĐLĐ: quyền của một chủ thể trong quan hệ HĐLĐ; HĐLĐ bị chấm dứt hiệu lực pháp lý trước thời hạn hoặc trước khi công việc theo hợp đồng được hoàn thành; tạo ra những hệ quả pháp lý đa dạng; giải phóng cho chủ thể khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong HĐLĐ.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ được phân loại dựa trên ý chí của chủ thể và tính chất pháp lý của hành vi đơn phương cham dứt HĐLĐ. Về lý luận pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ, pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về những căn cứ, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý mà NSDLĐ và NLĐ phải tuân thủ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Nội dung của pháp luật gồm quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ và NLĐ, được xem xét dưới ba nội dung: căn cứ, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý mà họ phải tuân thủ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Nội dung này được làm sâu sắc hơn khi tác giả nêu ra quy định về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một số quốc gia trên thế giới.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ ĐƠN PHƯƠNG CHÁM DUT HOP DONG LAO DONG VA THUC TIEN THUC HIEN TAI CONG TY CO PHAN CONSTREXIM BAC HA 2. Thực trạng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 2. Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 2. Trình tự, thủ tục người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Điều kiện duy nhất mà NLĐ phải tuân thủ khi muốn đơn phương cham dứt HDLD là thời gian báo trước: ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng. Riêng với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Theo đó, ngành, nghề, công việc đặc thù gồm: (¡) Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không: nhân viên điều độ, khai thác bay; (1) Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; (1i) Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài; (iv) Trường hợp khác đo pháp luật quy định. Khi NLD làm ngành, nghề, công việc đặc thù này đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì thời hạn báo trước như sau: ít nhất 120 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên; ít nhất bằng một phần tư thời hạn của HĐLĐ đối với HĐLĐ có thời hạn dưới 12 tháng.
Mục đích của thời hạn báo trước là để NSDLĐ có kế hoạch tìm kiếm, tuyển dụng và đào tạo NLĐ thay thế, tránh tình trạng NSDLĐ bị động dẫn đến gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến thị trường hàng hoá và dịch vụ. 20 Tuy nhiên, Trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ nếu có lý do theo quy định thì không phải báo trước cho NSDLĐ. Theo quy định tại khoản 2, Điều 35 BLLĐ năm 2019 NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HDLD cần lý do nhưng không cần báo trước cho NSDLĐ trong trường hợp sau đây: (¡) không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này; (ii) không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này; (1ï) bị NSDLĐ ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; (iv) bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; (v) lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này; (vi) đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; (vii) NSDLĐ cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản | Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐLĐ. Khi NLĐ sử dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này, thì NLĐ phải có chứng cứ chứng minh mình đang ở một trong bảy trường hợp nêu trên.
Hậu quả pháp lý đối với người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trường hợp NLĐ đơn phương châm dứt HĐLĐ hợp pháp: Về trách nhiệm của NLĐ, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, NLĐ có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của NSDLĐ, trừ một số trường hợp có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”. Ngoài ra, NLĐ có thể phải bồi thường chỉ phí đào tạo nếu các bên đã ký hợp đồng đào tạo nghềề. Về quyền lợi của NLĐ, được hưởng các quyền lợi tương tự như khi họ bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ như: thanh toán tiền lương cho NLĐ cho những 7 điểm a, b, c, đ khoản 1 Điều 48 BLLĐ năm 2019.
‹ 3 Điều 62 BLLĐ năm 2019 và khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014. 21 ngày chưa nghỉ hàng năm”; được xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm và bản sao các tài liệu liên quan!!, Trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ bất hợp pháp: Khi đơn phương chám dứt HĐLĐ bất hợp pháp, NLĐ phải chịu trách nhiệm pháp lý như: không được trợ cấp thôi việc; phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước; phải hoàn trả cho NSDLĐ chi phi đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này!'; không được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mắt việc làm và các quyền lợi khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp!? 2. Trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 2. Căn cứ để người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 36 BLLĐ năm 201913 Điều này quy định: () NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của NSDLĐ.
Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do NSDLĐ ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện NLD tai cơ sở đối với nơi có tổ chức đại dién NLD tai cơ sé; (ii) NLD bi 6m dau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của NLĐ bình phục * khoản 3 Điều 113 BLLĐ năm 2019. !9 khoản 3 Điều 48 BLLĐ năm 2019. "2 Điểm a khoản 1 Điều 49 Luật việc làm 2013.
'3 khoản 10 Điều 34 BLLĐ năm 2019. 22 thì NSDLĐ xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ với NLD); (iii) do thién tai, hoa hoan, dich bénh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thấm quyền mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc; (iv) NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật nay; (v) NLD đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (vi) NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên; (vii) NLĐ cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến việc tuyên dụng NLĐ. Khi NSDLĐ sử dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này, thì trước tiên họ phải có chứng cứ chứng minh NLĐ đang ở một trong bảy trường hợp nêu trên. - NSDLB cho NLD thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 BLLĐ năm 20191.
NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi về cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế.!° Quy luật cạnh tranh là một trong ba quy luật trong nền kinh tế thị trường, hai quy luật còn lại là quy luật cung cầu và quy luật giá cả. Các doanh nghiệp đều mong muốn lôi kéo khách hàng về mình bằng cách giảm giá và nâng cao chất lượng sản phẩm. Do vậy họ bắt buộc phải thay đổi cơ cấu, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động. Các trường hợp được coi là thay đổi cơ cấu, công nghệ: (ï) thay đổi cơ cấu tổ chức, tô chức lại lao động; (ii) thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ; (iii) thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm.
Bên cạnh đó, do tác động khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực có tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam.