Chương 1: Khai quát về cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về canh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình. Chương 2: Thực trạng pháp luật vẻ cạnh tranh không lành mạnh trong Tĩnh vực quảng cáo trên truyền hình va thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số kiên nghị hoàn thiên pháp luật va nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam. CHƯƠNG1 KHÁI QUÁT VẺ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VẺ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VUC QUANG CÁO TREN TRUYEN HÌNH 11.
Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình 1. Khái quát về cạnh tranh không lành mạnit 1. Khái mệnh cạnh: tranh Canh tranh la “một sự kiện hoặc cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để gianh phan hon hay ưu thé tuyệt đối về phía minh” (theo cách hiểu thông qua Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh)’ Còn theo giải thích của Từ điển tiếng Việt, thì cạnh tranh được hiểu là “cô gắng gianh phan hon, phan thắng về minh giữa những người, những tô chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”2 Có thé nói cạnh tranh 1a quy luật tất yêu của kinh tế va là một trong những phương thức dé đầy mạnh nên kinh tế vả điều tiết thị trường. Cạnh tranh cũng có thé coi là động lực thúc đây các nhà kinh doanh luôn sang tao, đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không ngừng nỗ lực nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng vả thị trường.
Về ban chất, cạnh tranh dưới góc nhìn kinh tê là sự ganh đua giữa các thương nhân nhằm gianh giât khách hang Ma thường thì kết qua của cuộc canh tranh sẽ là bên chiến thắng mở réng thị trường, tăng loi nhuận, còn bên thua cuộc sẽ giảm thiểu khách hang và thậm chí là phải rút lui khối thị trường Đây 1a một phan tat yéu, buộc các nha kinh doanh phải không ngừng cải tiền, nâng cao nguôn lực dé có thé tén tại trong thị trường. Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ điễn ra khi co it nhất hai doanh nghiệp cùng tung ra thi trường những sản ‘ CUTS All About Competition Policy & Law For the advanced leaner (2000), tr. i * Viên ngôn ngữ học, Trung tim Tử diễn học (1997), Từ điền nắng Việt, Neb Da Ning, tr. phẩm tương tự nhau, hướng đến cùng những đổi tượng khách hàng.
Bởi lế, khó có thé bắt gap một doanh nghiệp sản xuất giây cạnh tranh với doanh nghiệp sản xuất ô tô. Do đó, cạnh tranh xuất hiện khi các chủ thể kinh doanh là đôi thủ của nhau thê hiện sự tranh gianh khách hang thông qua nhiêu cach thức khác nhau, trong đó quãng cáo trên truyền hình là mét hình thức trong số đó. Khái niệm và đặc diém của cạnh tranh không lành manh “Bat kỳ hành vi cạnh tranh nao đi ngược lai các thông lệ trung thực, thiện chi trong công nghiệp hoặc trong thương mai đêu la hành vi cạnh tranh không lảnh mạnh”. Đây là đính nghĩa được thừa nhận rộng rai nhật hiện nay vé hảnh vi canh tranh không lành mạnh, được quy định tại Điều 10°5 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 (được sửa đổi, bỏ sung vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967 vả được tông sửa đôi năm 1979).
Vai trò của cạnh tranh trong việc cân bằng thị trường là đặc biệt quan trọng. Điều nảy đã tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển vả đôi mới không ngừng. Tuy nhiên, tan dụng điều đó, nhiêu doanh nghiệp đã có những hanh vi vượt ngoai khuôn khô, gây cạnh tranh qua mức. Nha nước mang trong trách là không tạo ưu thê hay gây bat loi cho đối thủ cạnh tranh, đồng thời phải kip thời ngăn chặn việc các đối thủ canh tranh dùng thủ đoạn để tao ra lợi thé cho minh.
Luật Cạnh tranh ra đời với muc dich ngăn chăn các hành vi của doanh nghiệp nhằm tạo lợi thé cạnh tranh không chính đáng trước các đối thủ khác. Năm 2004, Quốc hôi ban hảnh Luật Canh tranh dau tiên với khái niệm “Hanh vi cạnh tranh không lảnh mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường ` Nguyễn Thi Vin Anh (chủ bền, 2020), Giáo nữ: Luật Cạnh ranh NXB. Công án nhấn din, Hi Nội, 1.279 vé đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thé gây thiệt hai đền lợi ích của Nha nước, quyên và lợi ich hop pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dung”. Điêu nay đã chứng tö sự quan tâm của Nha nước đổi với thị trường va su ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh lên hoạt đông kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng va môi trường kính doanh nói chung.
Đến năm 2018, Luật Cạnh tranh lại quy đình: “Hanh vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trai với nguyên tắc thiên chi, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hai hoặc có thể gây thiệt hại đến quyên vả lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác"”Ẻ. Đây dường như là một khái niệm mở hơn, khi ngày cảng có nhiều phương thức cạnh tranh không lành mạnh xuất hiên song song với sự phát triển của nên kinh tế. Yêu tổ đánh giá về tính lành manh của hành vị cạnh tranh trong Luật 2018 đã được quy định cụ thé hơn so với Luật Cạnh tranh 2004, từ việc quy định chung các chuẩn mực đạo đức kinh doanh theo Luật Canh tranh 2004 thành quy định nguyên tắc thiên chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh theo Luật Cạnh tranh 2018. Hơn nữa định nghĩa theo Luật Cạnh tranh 2018 đã đặt trong tâm vao xem xét tác đông của hành vi cạnh tranh không lành mạnh tới doanh nghiệp khác và bỏ qua việc xem xét tác động đền người tiêu dùng hay trật tự quản lý của nha nước như định nghiia của Luật Cạnh tranh 2004.
Như vây, có thể hiểu: “cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cu thé của chủ thé thực hiện hoạt động kinh doanh, mục đích lả cạnh tranh gây thiệt hại cho cho khách hang hoặc đôi thủ cạnh tranh hay ban hàng cu thé”. Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: 3 Khoản $ Điều 3 Luật Caủttranh 2004 * Khoän 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 10 Một ia, đây là hành vi cạnh tranh được thực hiên bởi các chủ thé hoạt động kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho chính doanh nghiệp của minh Doanh nghiệp có thể dùng cách nay hay cách khác nhằm mục dich thu hút hay giảnh giật khách hàng về phía mình nhằm thu lại loi nhuận. Hai là hành vi này mang tính chat đối lập, trái ngược với các nguyên tắc, thông lê tốt trong kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc xử sư chung đã được chấp nhận rộng rãi va lâu dai trong hoạt động kinh doanh trên thị trườngẾ Voi nên lạnh tế xã hôi phát triển, loài người dân thoát ra khỏi mô hình kinh doanh tập trung, đồng nghĩa với việc các hành vi cạnh tranh xuất hiện Ba là hành vi này cần thiết phải được loại bö ngay khi nó gây thiệt hai hay có khả năng gây hại cho doanh nghiệp đôi thủ. Tùy vào pháp luật từng quốc gia vả quan điểm lập luận cơ quan xử lý mà có các cách nhìn khác nhau về hậu qua của hành vi cạnh tranh không lành mạnh” Dựa vào Luật Cạnh tranh và thực tế áp dụng thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được chia thành ba nhóm như sau: (0) Những hành vi có tinh lợi dung ưu thé cạnh tranh của doanh nghiệp khác được coi là uy tín trên thi trường.
Nhóm hành vi nay thường được bắt gap dưới những dạng thức như nhâm lẫn về nguôn gốc, xâm phạm bí mật kinh doanh hay lợi dụng thành qua của người khác,. (ii) Những hảnh vi có tinh chat chỉ trích hay gây trở ngại cho các doanh nghiệp khác. Nhóm này thường có hanh vi tân công trực tiếp vao đi thủ cạnh tranh, nhằm lam suy giãm lợi thé canh tranh của đối thủ, vi du như tác đông đến uy tín của doanh nghiệp đối thủ * Nguyễn Thi Vin Anh (chủ biên, 2020), Giáo rink Luật Cạnh rank,NXB. Công an nhân din, Hi Néi, tr.
` Nguyễn Thi Vin Anh (chủ bên, 2020), Giáo mink Luật Cạnh tranh NXB. Công an nhân din, Hà Nội, tr.290 11 (iit) Những hanh vi nhằm lôi kéo khách hang của doanh nghiệp khác. Đây là một dạng hành vị kha phô biển trên thị trường quảng cáo hiện nay. Khai quát về lữnh tực quang cáo trên truyền hinh “Quang cáo là noi nhà buôn hay cơ quan kinh doanh lam cho moi người biết dén hang của mìnhŠ.
Theo đó, bản chat của quảng cáo là phô biên thông tin liên quan tới hàng hoa, dich vu của doanh nghiệp kính doanh mặt hang do, dé đem về Ici nhuận thông qua hình ảnh, thông điệp hay sức thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán. Trong đó, chủ thể của hoạt động quảng cáo 1a nhà lĩnh doanh, còn chủ thể tiếp nhận quảng cáo 1a người tiêu ding Theo định nghia của Hiệp hội Quảng cáo Mỹ (AMA) thi “Quang cáo la hoạt động truyền bá thông tin trong đó nói rõ ý đồ của quảng cáo, tuyên truyén hang hóa, dich vu của quảng cáo trên cơ sở thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người tiêu dùng”. Con ở Việt Nam, khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định hai hình thức lả quảng cáo nhằm mục đích sinh lợi và quảng cáo vì lợi ích xã hôi hay nói cách khác là không có mục đích sinh loi. Hình thức quảng cáo không có mục đích sinh lợi được thực hiện bởi Dang, Nha nước khi có hoạt đông tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật.
Tại Việt Nam, truyền thông truyền hình chiêm vị tri đặc biệt quan trong va trở thành nguôn tin dang tin cây của người dân Việt Nam nhờ được thừa hưởng uy tin từ kênh truyền thông chính thông của quốc gia. Tương tự các nước trên thé giới, quảng cáo trên truyền hình ở nước ta cũng có nhiều hình thức khác nhau, như sau: - Quảng cáo bằng hình thức TVC (Television Commercial): Thời lượng cho mối phim quảng cáo TVC thường la 15 đến 45 giây va được chiều trước, * Vấn Tin (1994), Từ điển Thống Việt Nod. Khoa hoc số hội, Ha Nội tr 315 sau hoặc giữa các chương trình truyền hình. Quảng cáo sẽ chất lọc những nôi dung đặc sắc, cơ bản nhất của sản phẩm, dịch vụ va nhãn hiệu.