Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Thị trường bất động sản (TTBĐS) tại Việt Nam trải qua hơn hai thập kỷ phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự gia tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ bổ trợ, trong đó dịch vụ môi giới bất động sản (MGBĐS) giữ vai trò trung gian then chốt kết nối cung - cầu. Tuy nhiên, thị trường xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực: lực lượng môi giới hoạt động tự phát, thiếu kỹ năng chuyên môn và hiểu biết pháp lý, tình trạng "cò đất" làm nhiễu loạn thông tin, thổi giá, lừa đảo giao dịch gây thiệt hại hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng. Bên cạnh đó, theo thống kê được nêu trong văn bản, có tới 80% nhân sự MGBĐS chuyển đơn vị công tác hoặc bỏ nghề chỉ sau một năm làm việc do thiếu kiến thức, kỹ năng và áp lực thị trường.

Mặc dù Nhà nước đã ban hành hành lang pháp lý từ Luật Kinh doanh bất động sản (KDBĐS) 2006 đến Luật KDBĐS 2014, các quy định hiện hành vẫn bộc lộ khoảng trống: chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, công tác tổ chức đào tạo và sát hạch cấp chứng chỉ còn nhiều hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao. Trong bối cảnh Luật KDBĐS năm 2023 được ban hành và chuẩn bị có hiệu lực thi hành, tác giả Bùi Thị Thu Cúc đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về dịch vụ môi giới bất động sản ở Việt Nam và thực tiễn thực thi" nhằm đánh giá toàn diện hệ thống quy định hiện hành, đối chiếu với thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định mục đích nghiên cứu tổng quát là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về MGBĐS dưới góc độ pháp lý, đánh giá vai trò của nghề trong nền kinh tế, giải quyết các vướng mắc nổi cộm nhằm định hình môi trường làm việc chuyên nghiệp, củng cố niềm tin xã hội và đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua 5 nhóm nội dung:

  1. Hệ thống hóa quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển TTBĐS trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Tổng hợp, phân tích các quan điểm lý thuyết và cơ sở khoa học về MGBĐS của các học giả trong và ngoài nước.
  3. Rà soát, đối chiếu nội dung các quy định về MGBĐS trong Luật KDBĐS 2014, các văn bản hướng dẫn thi hành và đối chiếu với những điểm sửa đổi, bổ sung của Luật KDBĐS 2023.
  4. Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật MGBĐS tại Việt Nam, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân thực tế.
  5. Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và mô hình quản lý hoạt động MGBĐS của một số quốc gia trên thế giới (Nhật Bản, Úc, Anh), từ đó rút ra bài học gợi mở cho Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, đường lối của Đảng; hệ thống lý luận khoa học pháp lý về MGBĐS; các quy phạm pháp luật điều chỉnh dịch vụ MGBĐS tại Việt Nam và văn bản pháp luật của một số quốc gia; thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào thị trường Việt Nam, có mở rộng so sánh kinh nghiệm pháp lý tại Nhật Bản, Úc và Vương quốc Anh.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu, phân tích quy định và thực tiễn thi hành trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chế định kinh doanh dịch vụ MGBĐS theo pháp luật kinh doanh bất động sản và các ngành luật liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết, khái niệm và văn bản pháp luật sử dụng

Nghiên cứu tiếp cận dịch vụ MGBĐS như một loại hình môi giới thương mại mang tính chuyên nghiệp và là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tác giả sử dụng các định nghĩa, khái niệm học thuật từ Từ điển Bách khoa Việt Nam, giáo trình Đại học Luật Hà Nội, quan điểm của PGS.TS. Phan Thị Cúc, PGS.TS. Nguyễn Văn Xa, TS. Doãn Hồng Nhung.

Văn bản pháp lý nền tảng được trích dẫn và phân tích gồm:

  • Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023.
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (chế định hợp đồng dịch vụ tại Điều 513, 514).
  • Luật Thương mại năm 2005 (Điều 150 về môi giới thương mại).
  • Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch.
  • Nghị định số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, kinh doanh bất động sản.
  • Thông tư số 11/2015/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định về cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề MGBĐS, điều hành sàn giao dịch BĐS.
  • Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phân bổ chỉ tiêu Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  • Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp môi giới bất động sản gồm 20 quy tắc do Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARs) ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, bình luận, tổng hợp và so sánh luật học: Sử dụng tại Chương 1 để làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm, vai trò của MGBĐS và phân tích kinh nghiệm quốc tế.
  • Phương pháp diễn giải, đối chiếu, thống kê và đánh giá thực tiễn: Áp dụng tại Chương 2 nhằm mổ xẻ nội dung các điều luật, chỉ tiêu thực thi, rà soát số liệu thực tế về cấp chứng chỉ, sàn giao dịch và các vụ việc vi phạm.
  • Phương pháp quy nạp và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 3 để xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong khóa luận bắt nguồn từ các báo cáo chính thức của Bộ Xây dựng (số liệu giao dịch năm 2023, số lượng sàn giao dịch), thông tin công bố từ Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARs), các nghiên cứu của viện nghiên cứu, trường đại học (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN), tài liệu thống kê quốc tế (REINS - Nhật Bản; REIA - Úc; NAEA, RICS - Anh; Mordor Intelligence).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ môi giới bất động sản

Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về hoạt động MGBĐS và pháp luật điều chỉnh:

  • Khái niệm và đặc điểm: MGBĐS là hoạt động trung gian thương mại nhằm mục đích sinh lời, có tính chuyên môn cao, mang tính chất của một ngành nghề kinh doanh có điều kiện và vận hành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ.
  • Vai trò: Hoạt động MGBĐS tác động ba chiều: (i) Đối với TTBĐS: điều phối vòng quay tài sản, phân bổ nguồn lực, hạn chế tình trạng bất đối xứng thông tin; (ii) Đối với khách hàng: cung cấp thông tin pháp lý, quy hoạch, công năng, hỗ trợ đàm phán và phòng ngừa rủi ro; (iii) Đối với Nhà nước: góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, thúc đẩy chính sách minh bạch, tạo nguồn thu ngân sách thông qua việc thu thuế và duy trì ổn định trật tự kinh tế - xã hội.
  • Cơ sở hình thành pháp luật: Được hình thành từ cơ sở lý luận (quyền tự do kinh doanh gắn với chức năng cưỡng chế, quy phạm, công khai của pháp luật) và cơ sở thực tiễn (áp lực đô thị hóa, gia tăng nhu cầu nhà ở, tình trạng lũng loạn giá đất của giới "cò", chuyển dịch cơ cấu lao động).
  • Pháp luật quốc tế và bài học cho Việt Nam: Tác giả phân tích mô hình quản lý của ba quốc gia:
    • Nhật Bản: Bắt buộc giao dịch qua hệ thống REINS; kỳ thi Takken Shiken tổ chức chặt chẽ 2 lần/năm với 50 câu trắc nghiệm thuộc 4 nhóm luật; áp dụng trần hoa hồng nghiêm ngặt ($3% + 60.000\text{ yên} + 10%\text{ thuế}$).
    • Úc: Quản lý phân cấp theo bang/lãnh thổ (New South Wales cấp hạn 2 năm, Victoria 3 năm, Queensland 3 năm, Western Australia 2 năm); bắt buộc gia nhập Hiệp hội BĐS Úc (REIA); kết hợp mô hình môi giới chiết khấu trực tuyến.
    • Vương quốc Anh: Hoạt động qua các cơ quan chuyên môn tự quản (NAEA, RICS, The Property Ombudsman); áp dụng tiêu chuẩn Chứng chỉ Cấp III và Cấp IV; khoảng 2/3 nhân sự hoạt động trong khuôn khổ tổ chức nghề nghiệp.
Quốc gia Hình thức cấp phép / Chứng chỉ Cơ chế kiểm soát & Tổ chức nghề nghiệp Bài học gợi mở cho Việt Nam
Nhật Bản Chứng chỉ Takken Shiken (thi 50 câu trắc nghiệm, kiểm tra 4 lĩnh vực luật). Bắt buộc niêm yết thông tin trên hệ thống REINS; khống chế khung trần hoa hồng. Chuẩn hóa kỳ thi sát hạch nghiêm ngặt, giới hạn số đợt thi hàng năm để tránh tổ chức tràn lan.
Úc Giấy phép phân cấp theo từng bang/lãnh thổ; thời hạn từ 2 - 3 năm, gia hạn mỗi 12 tháng. Bắt buộc là thành viên Hiệp hội REIA; phát triển mô hình dịch vụ môi giới chiết khấu trực tuyến. Nghiên cứu phân hóa tiêu chuẩn hành nghề theo đặc thù vùng miền, thị trường địa phương.
Vương quốc Anh Không bắt buộc một giấy phép đơn lẻ; yêu cầu Chứng chỉ Cấp III, Cấp IV của tổ chức nghề nghiệp. Quản lý thông qua các hiệp hội (NAEA, RICS, Ombudsman); 2/3 môi giới trực thuộc tổ chức. Nâng cao vị thế, thẩm quyền và vai trò giám sát của hiệp hội nghề nghiệp (VARs).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản và thực tiễn thi hành

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống pháp luật thực định Việt Nam (trọng tâm là Luật KDBĐS 2014) và đánh giá tình hình thi hành:

  • Nguyên tắc và điều kiện kinh doanh: Điều 62 Luật KDBĐS 2014 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh MGBĐS phải thành lập doanh nghiệp và có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề MGBĐS. Cá nhân kinh doanh độc lập phải có chứng chỉ và đăng ký nộp thuế. Nhà môi giới không được đồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong cùng một giao dịch.
  • Quyền và nghĩa vụ: Điều 66 và 67 Luật KDBĐS 2014 quy định quyền hưởng thù lao, hoa hồng theo thỏa thuận không phụ thuộc vào kết quả giao dịch (đối với thù lao) hoặc khi giao dịch thành công (đối với hoa hồng). Nghĩa vụ gồm cung cấp thông tin trung thực, chịu trách nhiệm về hồ sơ cung cấp, bồi thường thiệt hại do lỗi cá nhân, chịu sự thanh tra và nộp thuế đầy đủ.
  • Hợp đồng dịch vụ MGBĐS: Bản chất là hợp đồng dịch vụ theo Bộ luật Dân sự 2015, bắt buộc lập thành văn bản theo Khoản 4 Điều 61 Luật KDBĐS 2014 với 9 nội dung cốt lõi; không bắt buộc công chứng. Vi phạm về hình thức và nội dung bị xử phạt theo Nghị định 16/2022/NĐ-CP (mức phạt từ 120 triệu đồng).
  • Cấp chứng chỉ hành nghề và đạo đức nghề nghiệp: Điều 68 Luật KDBĐS 2014 cùng Thông tư 11/2015/TT-BXD quy định cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tốt nghiệp THPT trở lên và đạt từ 70/100 điểm trong kỳ thi sát hạch 120 phút. Chứng chỉ có thời hạn 05 năm trên phạm vi toàn quốc. Về đạo đức, VARs đã ban hành Bộ Quy tắc đạo đức gồm 20 quy tắc, yêu cầu tính tuân thủ pháp luật (Quy tắc 17), tính trung thực, công khai, bảo mật dữ liệu và tôn trọng quyền lợi khách hàng.
  • Đánh giá thực trạng thi hành:
    • Thành tựu: Cả nước có hơn 1.100 sàn giao dịch đang hoạt động (tính đến hết năm 2022), ghi nhận 433.444 giao dịch BĐS trong năm 2023; khoảng 40.000 người đã được cấp chứng chỉ hành nghề; Bộ Xây dựng công nhận nhiều cơ sở đào tạo chuyên sâu (Davilaw, V.Impact, Học viện Tài chính...).
    • Bất cập: Số lượng môi giới hoạt động không có chứng chỉ vẫn chiếm tỷ lệ lớn; hiện tượng trốn thuế, liên kết nâng giá, cấu kết lừa đảo còn diễn biến phức tạp; sự kiểm tra, giám sát từ các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương còn lỏng lẻo.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Chương 3 trình bày các định hướng và nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Định hướng: Bám sát đường lối, quan điểm của Đảng về quản lý và phát triển TTBĐS công khai, minh bạch; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quản trị từ các quốc gia phát triển; dựa trên kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Luật KDBĐS 2014 và chuẩn bị nguồn lực thi hành Luật KDBĐS 2023.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, hoàn thiện quy định về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề theo hướng nâng cao chất lượng đầu vào, siết chặt tiêu chuẩn sát hạch.
    • Luật hóa các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và ràng buộc trách nhiệm bồi thường cụ thể của tổ chức, cá nhân môi giới khi cung cấp thông tin sai lệch.
    • Quy định rõ ràng cơ chế quản lý giao dịch qua sàn, minh bạch biểu phí dịch vụ, hoa hồng và hình thức thanh toán bắt buộc qua ngân hàng để chống thất thu thuế.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm đối với các sàn giao dịch và môi giới cá nhân; xử lý nghiêm hành vi hành nghề không phép.
    • Nâng cao năng lực cho các trung tâm đào tạo, chuẩn hóa giáo trình giảng dạy kỹ năng và pháp lý.
    • Phát huy vai trò quản lý của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp như Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARs) trong việc cấp mã định danh, giám sát hành vi và xử lý kỷ luật hội viên.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực chứng

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh thực trạng pháp lý và thị trường MGBĐS:

  • 80%: Tỷ lệ nhân sự môi giới bất động sản chuyển việc hoặc rời bỏ ngành sau một năm làm việc do thiếu hụt kiến thức và áp lực cạnh tranh.
  • 2.028,07 nghìn ha: Diện tích đất đô thị của Việt Nam vào năm 2020 (chiếm 6,12% tổng diện tích tự nhiên), bình quân giai đoạn 2011-2020 tăng 38,57 nghìn ha/năm; mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 53,2% và diện tích sàn nhà ở bình quân đạt $30\text{ m}^2/\text{người}$.
  • 433.444 giao dịch: Tổng số lượng giao dịch bất động sản được ghi nhận trong năm 2023 theo báo cáo công bố của Bộ Xây dựng.
  • Hơn 1.100 sàn giao dịch: Số lượng sàn giao dịch bất động sản chính thức hoạt động trên toàn quốc tính đến hết năm 2022.
  • 40.000 người: Lực lượng môi giới đã được đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề MGBĐS chính quy theo thống kê từ VARs.
  • 70/100 điểm: Mức điểm chuẩn tối thiểu để vượt qua kỳ thi sát hạch kiến thức MGBĐS kéo dài 120 phút theo Thông tư 11/2015/TT-BXD.
  • 20 quy tắc: Số lượng điều khoản trong Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp môi giới bất động sản do VARs công bố.

Giải pháp và kiến nghị

Tác giả đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Nâng cao tiêu chuẩn sát hạch cấp chứng chỉ, hạn chế tổ chức các kỳ thi phân tán, kém chất lượng; yêu cầu bồi dưỡng kiến thức chuyên môn định kỳ trước khi gia hạn chứng chỉ 05 năm.
  2. Tăng cường chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định 16/2022/NĐ-CP đối với các hành vi hành nghề tự do không có chứng chỉ, không thành lập doanh nghiệp theo quy định.
  3. Hoàn thiện quy chế quản lý thông tin bất động sản, tích hợp hệ thống dữ liệu số tương tự mô hình REINS của Nhật Bản nhằm bảo đảm tính xác thực của thông tin quy hoạch, pháp lý.
  4. Trao thêm thẩm quyền tự quản cho Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam trong việc quản lý hội viên, giám sát việc thực hiện 20 quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các thuộc tính pháp lý đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch vụ MGBĐS trong nền kinh tế thị trường.
  • Làm rõ những khoảng trống pháp lý của Luật KDBĐS 2014 và dự báo tác động điều chỉnh của Luật KDBĐS 2023.
  • Cung cấp nguồn tư liệu so sánh pháp luật quốc tế (Nhật Bản, Úc, Anh) có giá trị tham khảo thực tiễn cho các cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý chuyên ngành tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi số liệu và thực tiễn thi hành trong khóa luận chủ yếu dừng lại ở mốc thời gian từ năm 2004 đến hết năm 2023, gắn liền với khung pháp lý của Luật KDBĐS 2014. Các phân tích về Luật KDBĐS 2023 mang tính chất đối chiếu, định hướng do đạo luật này chưa có hiệu lực tại thời điểm tác giả hoàn thành công trình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Theo dõi, khảo sát và đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi thực tế của Luật KDBĐS 2023 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành mới sau khi chính thức áp dụng; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế quản lý môi giới bất động sản trên không gian số và các sàn giao dịch điện tử xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên: Là tài liệu học tập, tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Đất đai, ngành Kinh doanh Bất động sản và Quản lý Đất đai khi nghiên cứu về chế định dịch vụ thương mại và bất động sản.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và bài học so sánh quốc tế phục vụ công tác rà soát, ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thi hành Luật KDBĐS 2023.
  • Đối với doanh nghiệp và người hành nghề: Phần phân tích về quyền, nghĩa vụ, hợp đồng dịch vụ (Điều 61, 66, 67 Luật KDBĐS 2014) và 20 quy tắc đạo đức VARs là căn cứ thiết thực giúp các sàn giao dịch và nhà môi giới chuẩn hóa quy trình tác nghiệp, hạn chế rủi ro pháp lý trong giao dịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nêu các điều kiện nào để cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề MGBĐS theo Luật KDBĐS 2014?

Theo quy định tại Điều 68 Luật KDBĐS 2014 và Thông tư 11/2015/TT-BXD được trích dẫn trong khóa luận, cá nhân được cấp chứng chỉ khi đáp ứng 3 điều kiện: (i) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (ii) Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên; (iii) Đã qua kỳ sát hạch kiến thức môi giới bất động sản (đạt từ 70/100 điểm bài thi 120 phút). Chứng chỉ do Giám đốc Sở Xây dựng cấp và có giá trị sử dụng 05 năm trên toàn quốc.

2. Pháp luật Nhật Bản khống chế mức phí hoa hồng môi giới bất động sản như thế nào?

Theo dữ liệu văn bản trích dẫn, pháp luật Nhật Bản quy định mức trần phí hoa hồng môi giới được tính theo công thức: $3% + 60.000\text{ yên} + 10%\text{ thuế}$ trên giá trị bán. Thông thường, một nửa số tiền hoa hồng được thanh toán khi ký hợp đồng, nửa còn lại thanh toán khi hoàn tất bàn giao tài sản.

3. Hợp đồng dịch vụ MGBĐS bắt buộc phải có những nội dung cơ bản nào?

Căn cứ Khoản 4 Điều 61 Luật KDBĐS 2014 được nêu trong khóa luận, hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản phải lập thành văn bản và bao gồm: tên, địa chỉ các bên; đối tượng và nội dung dịch vụ; yêu cầu và kết quả dịch vụ; thời hạn thực hiện; phí dịch vụ, thù lao, hoa hồng; phương thức, thời hạn thanh toán; quyền và nghĩa vụ các bên; giải quyết tranh chấp; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

4. Thị trường MGBĐS Việt Nam đạt được những con số thống kê nổi bật nào trong giai đoạn khảo sát?

Theo các báo cáo của Bộ Xây dựng và VARs được khóa luận trích dẫn, tính đến hết năm 2022 cả nước có hơn 1.100 sàn giao dịch hoạt động; năm 2023 ghi nhận 433.444 giao dịch bất động sản thành công; khoảng 40.000 cá nhân đã được cấp chứng chỉ hành nghề MGBĐS chính quy.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thu Cúc đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh dịch vụ môi giới bất động sản tại Việt Nam giai đoạn 2004 - 2023 và đối chiếu với bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Úc, Anh. Công trình chỉ rõ những thành tựu đạt được về quy mô thị trường lẫn các tồn tại về năng lực hành nghề, bất cập trong khâu cấp phép và quản lý hoạt động môi giới. Từ việc phân tích các quy định của Luật KDBĐS 2014 và bối cảnh ban hành Luật KDBĐS 2023, tác giả đã đưa ra hệ thống kiến nghị xác đáng nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý, siết chặt tiêu chuẩn nghề nghiệp và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trên thị trường bất động sản Việt Nam.