Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI 1.Khái niệm Thuế là khoản thu do Nhà nước dùng quyền lực của mình để buộc các tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Nhà nước thu thuế từ các chủ thể tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, các tổ chức và cá nhân có sở hữu tài sản, có thu nhập khi đạt đến một ngưỡng nhất định. Thuế có thể thu bằng tiền hoặc hiện vật hoặc dịch vụ khác.
Thuế là một phạm trù lịch sử ra đời và tồn tại cùng với các hình thái Nhà nước. Trong cuốn sách "Lý luận về luật thuế" của tác giả Yamamoto người Nhật Bản đã lược sử tình trạng đánh thuế trong lịch sử thế giới. Trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy, thuế là công cụ tái phân phối sản 9 vật phục vụ thần thánh. Trong sử sách Ai Cập cổ đại còn ghi lại sự bóc lột tàn nhẫn của quan lại đối với nông dân và sự đối xử bất công trong ban đặc ân miễn thuế.
Ở Đức vào năm 1524, nông dân đã nổi loạn để yêu cầu giảm nghĩa vụ đóng góp và lao dịch1. Ở nước ta, từ thời nhà Lý vào thế kỷ thứ X đã ban ra các loại thuế đánh vào sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Trải qua các triều đại phong kiến, nhiều sắc thuế được đặt ra đánh vào hoạt động khai mỏ, giao thương với nước ngoài. Với sự phát triển của các ngành công nghiệp trong thời kỳ thuộc Pháp, một số loại thuế hiện đại đã được áp dụng nhằm tạo nguồn thu cho chính quyền bảo hộ.
Trong xã hội hiện đại, chính phủ các nước thu thuế bằng tiền nên khoản thuế thu được gọi là tiền thuế, ngoài ra, tùy theo hành vi thu nộp của các tổ chức, cá nhân mà có thể sử dụng các thuật ngữ pháp lý là thu thuế, đánh thuế hoặc nộp thuế. Thuế với tư cách là một phạm trù kinh tế thực hiện ba chức năng cơ bản như sau: Một là, thuế có chức năng tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Chức năng này thể hiện quyền thu thuế của Nhà nước trong hiến pháp và pháp luật thuế. Nhà nước sử dụng ngân sách để chi tiêu duy trì bộ máy nhà nước và các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, an ninh, quốc phòng, tòa án và các dịch vụ hành chính.
Phạm vi đánh thuế rộng giúp Nhà nước có khả năng tạo nguồn thu lớn hơn nhiều so với các khoản thu ngân sách nhà nước khác. Hai là, thuế có chức năng phân phối lại thu nhập. Với chức năng này, thuế góp phần hạn chế tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Nhà nước ban hành luật thuế nhằm động viên sự đóng góp từ người có thu nhập cao vào ngân sách nhà nước và sử dụng để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp hay người yếu thế trong xã hội.
Hiến pháp các nước đều ghi _______________ 1. 山本守之『租税法の基礎理 論』改訂版税務経理協会, (Yamamoto: Lý luận cơ bản về Luật thuế, Nxb. Hội kinh doanh - thuế vụ, 2013, tr. 10 nhận quyền đánh thuế của Nhà nước để tạo lập nguồn thu duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước với mục đích phân phối lại thu nhập của các cá nhân trong xã hội.
Có nghĩa là, để duy trì sự tồn tại của Nhà nước thì cần thiết phải động viên bắt buộc một phần tài sản thuộc sở hữu của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước1. Ba là, thuế thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế. Theo chu kỳ tuần hoàn của nền kinh tế, trong thời kỳ kinh tế phát triển, việc tăng thuế làm giảm tích lũy và hạn chế đầu tư; trong thời kỳ kinh tế suy thoái, giảm thuế có tác động tăng tích lũy và thúc đẩy đầu tư. Ở các Nhà nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thuế suất được coi là công cụ điều chỉnh kinh tế tự động ("built-in stabilizer")2.
Có thể nói rằng, thuế là một phạm trù lịch sử ra đời cùng với nhu cầu tạo lập nguồn tài chính cho hoạt động chi tiêu của Nhà nước, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế và xã hội mà Nhà nước đặt ra các sắc thuế và thực hiện mục đích điều tiết thông qua các sắc thuế. Đặc điểm của thuế Như trên đã đề cập, trong Nhà nước hiện đại, một trong những chức năng cơ bản của thuế là tạo lập nguồn thu cho Nhà nước, quyền thu thuế của Nhà nước được ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật thuế. Khoản thu thuế có sự khác biệt với các khoản thu khác của Nhà nước ở các điểm sau: - Thuế là khoản nộp bắt buộc của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước. Các khoản thuế theo các sắc thuế tuy có mục đích điều tiết riêng nhưng đều có chung vai trò quan trọng trong động viên sự đóng góp của các _______________ 1.
Ở Nhật Bản, có học giả cho rằng, việc đánh thuế được ghi nhận trong luật, trên thực tế đã phủ nhận việc bảo đảm quyền tài sản, tuy nhiên vẫn phải thừa nhận việc đánh thuế là ngoại lệ trong quan hệ đánh thuế và bảo vệ quyền tư hữu đối với tài sản. Tham khảo: 新井隆一 2008.『税法からの問 税法からの答』成文堂, (Arai: Câu hỏi từ luật thuế, Nxb. 金子宏『租税法』弘文堂 1994, (Kaneko: Luật thuế, Nxb. 11 tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước.
Khoản thuế đối với thu nhập đánh vào cá nhân khi có thu nhập tới một ngưỡng nhất định và doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế. Còn khoản thu thuế tiêu dùng đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, theo đó khi phát sinh hành vi tiêu dùng thuộc đối tượng đánh thuế theo luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế tiêu thụ đặc biệt1, v., người tiêu dùng phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Khoản thuế có thể được phân cấp là nguồn thu của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương hoặc cả hai cấp ngân sách. - Thuế không mang tính đối giá.
Người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ đóng thuế không được hưởng lợi ích tương xứng với khoản thuế phải nộp, tuy nhiên, họ có thể hưởng lợi ích từ sử dụng các công trình đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc dịch vụ hành chính công do cơ quan nhà nước cung cấp. Khoản thu từ thuế phụ thuộc vào khả năng thu thực tế và được phân cấp sử dụng theo nghị quyết của Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân theo luật ngân sách nhà nước2. Theo đó, khoản thuế thu được được sử dụng nhằm thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu của Nhà nước trong năm tài chính. Do người nộp thuế không có lợi ích đối giá nên việc động viên về thuế ở mức nào, từ đối tượng nào cần phải xem xét kỹ lưỡng để không tạo ra bất lợi cho người nộp thuế.
Với tính không đối giá, thuế được phân biệt với các khoản thu từ phí trong cung cấp các dịch vụ công của Nhà nước. - Thuế được thu bằng tiền hoặc hiện vật. Thông thường, khoản tiền thu được từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng đánh thuế nên thuế được thu bằng tiền, nhưng cũng có loại thuế được thu bằng hiện vật (như thuế nông nghiệp trước đây). Nói chung, khoản thuế được xác định dựa trên giá tính thuế và tỷ lệ phần trăm _______________ 1.
Luật thuế giá trị gia tăng hiện hành của Việt Nam là Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành của Việt Nam là Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Luật ngân sách nhà nước hiện hành của Việt Nam là Luật ngân sách năm 2002. 12 theo quy định của pháp luật.
Quy định thu thuế bằng tiền được ghi nhận trong các luật thuế và luật quản lý thuế1. - Thuế được bảo đảm thu bằng biện pháp cưỡng chế. Thực chất, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là việc chuyển giao bắt buộc tài sản thuộc sở hữu của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước. Xuất phát từ nhu cầu tạo lập nguồn tài chính, khi khoản thu thuế không được nộp đúng, đủ sẽ gây khó khăn cho Nhà nước trong cân đối chi tiêu.
Nhà nước thực hiện quyền cưỡng chế buộc các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ theo pháp luật thuế nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách, đồng thời bảo đảm công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế. Bảo đảm thu thuế bằng biện pháp cưỡng chế cũng là đặc điểm phân biệt khoản thu thuế với các khoản thu khác của ngân sách nhà nước như thu từ bán tài sản của Nhà nước hay vay của các tổ chức, cá nhân thông qua phát hành trái phiếu chính phủ. Phân loại thuế Có thể phân loại thuế theo nhiều tiêu chí khác nhau. - Căn cứ theo xuất xứ của hàng hóa, có thể phân chia loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ là thuế nội địa và thuế nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vào một quốc gia, đánh thuế nhập khẩu nhằm bảo hộ hàng nội địa trước hành vi nhập khẩu hàng từ nước ngoài. Một đặc điểm khác để phân biệt thuế nội địa và thuế xuất, nhập khẩu (thuế quan) là có sự phân biệt thẩm quyền thu thuế của cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan. Đối với thuế nội địa, cơ quan quản lý thu là cơ quan Thuế, còn thuế xuất, nhập khẩu là cơ quan Hải quan. - Căn cứ theo phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập, người ta phân chia hệ thống thuế thành thuế trực thu ("direct _______________ 1.
Luật quản lý thuế hiện hành của Việt Nam là Luật quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014. Khoản 3 Điều 3 Luật quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 quy định xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. 13 tax") và thuế gián thu ("indirect tax")1. Thuế trực thu là loại thuế mà trong quan hệ thu nộp thuế thì người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.
Ví dụ, theo luật thuế thu nhập cá nhân, cá nhân nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, còn theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa là người nộp thuế vừa là người chịu thuế. Thuế gián thu là loại thuế mà trong quan hệ thu, nộp thuế thì người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế. Ví dụ, khi thu nộp thuế giá trị gia tăng (thuế tiêu dùng) hay thuế tiêu thụ đặc biệt thì người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế.