Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay. CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1.
Tổng quan về đất nông nghiệp 1. Đất –Tài nguyên đất Việt Nam Con người sinh ra gắn liền với đất, tồn tại được là nhờ các sản phẩm từ đất và đến khi nhắm mắt, xuôi tay họ lại trở về với đất. Qua bao nhiêu 14 z thế hệ con người đã có nhiều nhận thức khoa học và có cả những nhận thức mang ý nghĩa tâm linh về đât đai. Cho tới nay đã có nhiều định nghĩa về đất, Theo Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm 1995, Land (đất): Phần rắn khô của bề mặt trái đất, đối lập với nước [50, tr.
Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan, năm 1996, Land (đất): (1) phần rắn của bề mặt trái đất không bị bao phủ bởi nước; (2) phần cụ thể của bề mặt trái đất; (3) đất nước, vùng…; cư dân của vùng, người của một quốc gia; (4) mặt đất hoặc phần rắn xét ở khía cạnh tính chất, địa điểm tọa lạc; (5) đất xem xét dưới góc độ là tài sản…[51, tr.758] Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, năm 1998, Đất là phần chất rắn, nơi người và động thực vật sinh sống; phân biệt với biển, trời. Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1, năm 1995, Đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất được hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ. Đất có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật).
Đất được phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ Bazan; đất phù sa; đất phù sa cổ; đất rừng xám; đất Potzon; đất mặn kiềm hay chua mặn,vv. Đất đồng bằng tùy thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; đất miền núi chịu sự chi phối của chiều cao. Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy lợi, du lịch, vv). Đất đai là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nên có nhiều cách nhận thức khác nhau về đất đai.
Đối với ngành khoa học thổ nhưỡng, đất đai với tư cách là đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình hình thành, quy 15 z luật phân bố các loại đất trên địa cầu cùng những đặc tính khác nhau của các loại đất nên những thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học thổ nhưỡng là hệ thống tri thức tương đối đầy đủ về nhận thức khoa học về đất đai. Định nghĩa đất của Đacutraep – nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất. Theo tác giả: Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Các loại đá và khoáng chất cấu tạo nên vỏ trái đất dưới tác động của khí hậu, sinh vật địa hình trải qua một thời gian nhất định dần dần bị vụn nát.
Chính con người tác động và đất đã làm thay đổi nhiều tính chất đất và nhiều khi tạo ra một loại đất mới chưa có từng có trong tự nhiên, ví dụ như đất trồng lúa nước. Theo các định nghĩa của tổ chức FAO thì đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó. Như vậy, đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị ý niệm của con người. Theo định nghĩa này, đất đai thường gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích và khi có sự chuyển quyền sở hữu.
Cũng có quan điểm tổng hợp cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế - xã hội của một tổng thể vật chất. Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy …), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hệ thống thoát nước, đướng xá nhà cửa). Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích tự nhiên là 330.104,2 km2, xếp thứ 59 trên tổng số 200 nước trên thế giới, trong 16 z đó diện tích sông, suối, núi đá và các hải đảo chiếm khoảng 2 triệu ha, còn lại là các loại hình thổ nhưỡng đất liền. Gần ¾ diện tích đất đai của nước ta là rừng núi, diện tích đất nông nghiệp chưa đầy 25%.
Chúng ta có thể thấy, đất đai nước ta rất đa dạng về các loại đất nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng, do đó quyết định đến sự phân bố dân cư. Ở những vùng đất đai rộng lớn thì dân cư thưa thớt bởi điều kiện canh tác và sinh sống tại những vùng này rất khó khăn. Vùng Bắc Trung bộ chiếm 31,3% diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Trong khi đó, đồng bằng sông Hồng chiếm 3,78% diện tích đất tự nhiên nhưng chiếm 8,7% diện tích đất nông nghiệp.
Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,95% diện tích đất tự nhiên, nhưng chiếm 34,30% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do tốc độ tăng dân số cao, sự phát triển mạnh của các yếu tố như đô thị hoá, công nghiệp hoá và các cơ sở hạ tầng mà ở đó chủ yếu là đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sang các hoạt động kinh tế khác với số lượng ngày càng tăng. Diện tích đất trung bình trên đầu người thuộc loại thấp trên thế giới, diện tích đất trung bình trên đầu người là 0,46 ha, đứng thứ 10 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 135 trong tổng số 200 nước trên thế giới. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam chỉ còn dưới 0,11 ha, thuộc nhóm 7 là nhóm các nước có diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp trên thế giới [3, tr 49].
Do đó chính sách pháp luật đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên đất đai nhằm phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Phân loại đất đai, nhóm đất nông nghiệp theo pháp luật ở Việt Nam 17 z Phân loại đất là việc phân chia đất thành từng nhóm hay các loại đất khác nhau với những tên gọi đặc trưng nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc nghiên cứu bản chất, quá trình phát sinh, phát triển của từng loại đất khác nhau từ đó đề ra phương hướng quản lý và sử dụng hiệu quả. Khoa học nghiên cứu về đất, đặc biệt là ngành thổ nhưỡng nghiên cứu về đất đã tiến hành phân loại đất nhằm kiến giải các hiện tượng, tính chất đặc điểm tự nhiên của đất đai nhằm phục vụ cho sử dụng khai thác hợp lý đất đai nhất là đối với ngành kỹ thuật trồng trọt. Dựa trên những đặc điểm tự nhiên của đất và những thành tựu nghiên cứu của khoa học thổ nhưỡng để phát triển kinh tế - xã hội với tư cách là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành nông nghiệp.
Nếu khoa học thổ nhưỡng phân loại đất nhằm phục vụ cho kỹ thuật canh tác thì khoa học pháp lý nghiên cứu việc phân loại đất theo mục đích sử dụng của từng loại đất khác nhau dựa vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng loại đất nhằm phục vụ cho việc quản lý và sử dụng đất đai có định hướng và hiệu quả. Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, Luật đất đai năm 1987 tại Điều 8, đất đai được phân thành 5 nhóm đất: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng. Đến Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam được chia thành sáu loại: Đó là, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chưa sử dụng. Đối với đất nông nghiệp được xác định tại Điều 42 như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.” Với quy định của Luật đất đai năm 1993, theo sự phân chia này, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại riêng.
Tuy nhiên, sự phân loại này dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, vừa 18 z căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công quản lý đất đai. Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu. Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm : - Nhóm đất nông nghiệp; - Nhóm đất phi nông nghiệp; - Nhóm đất chưa sử dụng; Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “ đất nông nghiệp” trước đây.