CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại 1. Hoạt động kinh doanh thương mại Trong quá trình vận hành của hàng hóa, “sản xuất là điểm xuất phát, tiêu dùng là điểm cuối cùng, thương mại thực hiện chức năng phân phối và trao đổi là khâu trung gian.”3 Với vị trí này, hoạt động thương mại đóng vai trò quan trọng đối với sự hưng thịnh của nền kinh tế quốc gia, là mắt xích không thể thiếu trong quá trình phát triển và chuyển đổi cơ cấu xã hội của lịch sử nhân loại. Nhắc đến thương mại là nhắc đến sự trao đổi hàng hóa thông qua hoạt động mua bán trên thị trường.
Hay nói cách khác, thương mại là một phạm trù kinh tế, một lĩnh vực hoạt động của con người liên quan đến các hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ. Tổng quan trên toàn bộ quá trình trao đổi này có thể thấy hoạt động thương mại tồn tại dựa trên hành vi mua hàng hóa, tuy nhiên các cá nhân hay tổ chức kinh doanh không dùng tiền mua hàng hóa để đơn thuần phục vụ nhu cầu riêng, mà thay vào đó là mua hàng hóa và bán lại cho các đối tượng khác để kiếm lợi nhuận. Trong bối cảnh xã hội và kinh tế phát triển như hiện nay, hoạt động thương mại cũng ngày càng mở rộng, bên cạnh buôn bán còn bao gồm các hoạt động khác như xúc tiến thương mại, dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ quá cảnh hàng hóa, dịch vụ logistic, nhượng quyền thương mại,…Điều này cũng được định nghĩa rõ ràng tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 rằng: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi 3 Đinh Thị Hồng Tuyết (2017), “Vai trò của thương mại trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Công thương, link tham khảo: Vai trò của thương mại trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập (tapchicongthuong.vn), truy cập ngày 02/02/2023.” Khái niệm này có sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong các phiên bản Luật Doanh nghiệp năm 1999, năm 2005, năm 2014 và năm 2020 của Việt Nam, đó là việc “thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.”4 Như vậy, nhìn chung dù định nghĩa theo nghĩa thông thường hay theo quy định của pháp luật, kinh doanh thương mại là hoạt động được diễn ra trên cơ sở đầu tư và mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm tạo ra lợi nhuận. Tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng ý kiến về các vấn đề liên quan đến quyền lợi của các bên trong đời sống xã hội thường ngày.
Như vậy, kết hợp với khái niệm hoạt động thương mại đã nêu ở trên, có thể suy ra rằng tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền, nghĩa vụ giữa các bên hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại. “Tranh chấp thương mại” là một khái niệm khá phổ biến trong đời sống kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, thuật ngữ này được sử dụng để thay thế cho khái niệm “tranh chấp kinh tế” trong cơ chế quản lý tập trung của nền kinh tế hàng hóa trước đây. Tranh chấp kinh tế thời bấy giờ là biểu hiện của “những mâu thuẫn nội bộ của một hệ thống kinh tế phát triển thống nhất nhưng vẫn còn chưa có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”5.
Khái niệm này được định nghĩa khá rõ ràng và bao hàm các loại tranh chấp được coi là tranh chấp kinh 4 Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020. 5 Nguyễn Thế Anh (2016), Xây dựng chế định pháp luật về Hòa giải thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr.9, link tham khảo: Trung tâm Thư viện và Tri thức số - Library and Digital Knowledge Center (vnu.vn), truy cập ngày 02/02/2023. 10 tế thông qua các văn bản pháp luật của Việt Nam như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế số 01/1994/PL-UBTVQH9 ngày 16/3/19946 và Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ7 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế. Trên thực tế, sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường đã kéo theo sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau vào hoạt động kinh doanh.
Từ đó, các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, những tranh chấp kinh tế cũng chứa đựng nội dung và mức độ rắc rối cao hơn. Tuy nhiên, lần đầu tiên khái niệm “tranh chấp thương mại” được đề cập trong Luật Thương mại ngày 10/5/1997 lại có nội hàm khá gò bó và phạm vị chật hẹp, cụ thể: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại. Có thể thấy, khái niệm 6 Điều 12 Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế số 01/1994/PL-UBTVQH9 ngày 16/3/1994: “Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây: 1. Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; 2.
Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; 3. Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu; 4. Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật.” 7 Điều 1 Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục I Thông tư 02/PL-DSKT-1995 có hiệu lực từ ngày 18/01/1995: “Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau đây, không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp: a. Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp tư nhân và giữa pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân với cá nhân kinh doanh; b.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty như tranh chấp đòi rút vốn ra khỏi công ty, phân chia lỗ, lãi, nhập, tách, giải thể công ty, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty; c. Tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.” 8 Điều 238 Luật Thương mại 1997. 11 về tranh chấp thương mại như vậy chưa bao hàm được bản chất của các loại tranh chấp phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trường, đồng thời cũng chưa thực sự phù hợp với pháp luật quốc tế nói chung. Điều này đã tạo ra những xung đột pháp luật, giữa pháp luật quốc gia với các quy định quốc tế, đặc biệt là những công ước quan trọng về thương mại mà Việt Nam đã là thành viên như Công ước New York năm 19589.
Ngay sau đó, khi Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày 25/5/200310 được ban hành, mặc dù không có định nghĩa trực tiếp về tranh chấp thương mại, nhưng sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về “thương mại” và “tranh chấp thương mại” giữa pháp luật Việt Nam và chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế. Đây là bước đột phá quan trọng, tạo tiền đề cho các văn bản pháp luật sau này của Việt Nam như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Thương mại năm 2005,…đề cập đến lĩnh vực hoạt động thương mại nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng một cách chuẩn mực hơn.11 Từ những dẫn chứng ở trên, có thể thấy, khái niệm “tranh chấp thương mại” chưa được ghi nhận chính xác và cụ thể ở bất cứ một văn bản pháp lý cố định nào của hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam. Mặc dù vậy, nhìn chung quan niệm về tranh chấp thương mại tuy được thể hiện thông qua cách thức biểu đạt khác nhau, nhưng vẫn chứa đựng những yếu tố nội dung khá nhất quán: 9 Khoản 3 Điều 1 Công ước New York năm 1958 quy định: “…Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, nhưng được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.” 10 Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày 25/5/2003 quy định: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; tư vấn ; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.” 11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật thương mại Tập 2 (tái bản lần thứ 11), NXB Công an Nhân dân. 12 Thứ nhất, về chủ thể: chủ thể chủ yếu trong các tranh chấp thương mại là các thương nhân (cá nhân kinh doanh, tổ chức kinh doanh).
Trong một số trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại.12 Thứ hai, về nội dung phát sinh tranh chấp: những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại trong các mối quan hệ cụ thể (theo hợp đồng hoặc không theo hợp đồng) Thứ ba, về giải quyết tranh chấp: các bên trong tranh chấp tự định đoạt phương thức và cơ chế giải quyết tranh chấp. Điều này được thể hiện ở việc các bên có quyền lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại (miễn là hình thức giải quyết tranh chấp đó được pháp luật công nhận) như thương lượng, hòa giải giữa các bên, giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.