Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, việc đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển ngành dịch vụ. Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 và tiếp cận các cam kết của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS 1995), thị trường dịch vụ trong nước đã mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chịu sự chi phối mang tính quyết định từ khung khổ pháp luật và hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế. Mặc dù hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến bộ nhằm thể chế hóa chủ trương của Nhà nước, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định hiện hành vẫn còn tình trạng rải rác, thiếu đồng bộ, chồng chéo và tồn tại khoảng trống pháp lý, gây khó khăn cho các bên tham gia giao kết. Xuất phát từ bối cảnh đó và qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng quy định và kiểm nghiệm thực tiễn áp dụng tại một doanh nghiệp xây dựng cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, đối chiếu với thực tiễn thực hiện tại doanh nghiệp khảo sát, chỉ ra mặt tích cực cùng những bất cập, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh và nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng. Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác lập gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
  2. Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh; qua đó đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và trong hoạt động của công ty.
  3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ của Việt Nam cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam điều chỉnh quan hệ giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh vấn đề này tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn theo các chiều kích:

  • Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ kể từ năm 2005 đến thời điểm thực hiện khóa luận, đồng thời xác lập các kiến nghị, giải pháp định hướng đến năm 2020.
  • Về không gian: Đề tài đi sâu vào các vấn đề pháp lý và thực tiễn giao kết hợp đồng điển hình tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh và một số doanh nghiệp liên quan.
  • Về nội dung: Khóa luận giới hạn nghiên cứu trong 3 nhóm vấn đề tương ứng với kết cấu 3 chương, bao gồm: lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ; thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp; định hướng cùng giải pháp hoàn thiện.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận pháp lý hợp đồng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế có liên quan:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Trực tiếp sử dụng Bộ luật Dân sự (BLDS 2015, đối chiếu với BLDS 1995 và BLDS 2005), Luật Thương mại (LTM 2005, đối chiếu với LTM 1997), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Luật Giá năm 2012, cùng các luật chuyên ngành như Luật Du lịch 2017, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010, Luật Viễn thông 2009.
  • Cơ sở pháp lý quốc tế và luật so sánh: Khóa luận tham chiếu Hiệp định GATS của WTO, các Hiệp định thương mại tự do (FTA thế hệ mới như Việt Nam - EU, TPP), đồng thời tiếp cận định nghĩa hợp đồng qua các hệ thống pháp luật tiêu biểu gồm Luật La Mã cổ đại, BLDS Cộng hòa Pháp (Điều 1.101), BLDS Québec - Canada (Điều 1.378), Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Điều 1.201), Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 (Điều 2) và BLDS Liên bang Nga 1994 (Điều 420).
  • Kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước: Đề tài tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu gồm: công trình nghiên cứu của GS.TS Hồ Văn Tĩnh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); luận văn của Phạm Mai Phương (2014); chuyên đề của Nguyễn Thị Mơ (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011); khóa luận của Nguyễn Thị Yến (Viện Đại học Mở Hà Nội, 2013); các bài báo khoa học của ThS. Hà Công Bảo Anh (Tạp chí Kinh tế đối ngoại, 2013), Lê Thị Bích Ngọc (2014); cùng các giáo trình chuyên ngành của Đại học Luật Hà Nội (2017), Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) và Đại học Kinh tế Quốc dân (2005).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý và kinh tế:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng để phân tích các khái niệm, quy định pháp luật thực định và phân rã các bước trong quy trình đàm phán, giao kết hợp đồng tại doanh nghiệp.
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp quan điểm học thuật từ các công trình nghiên cứu đi trước và hệ thống hóa văn bản pháp luật nhằm rút ra những nhận định tổng quát về chế định hợp đồng cung ứng dịch vụ.
  • Phương pháp so sánh: So sánh quy định giữa BLDS và LTM qua các thời kỳ phát triển; đối chiếu giữa luật chung và luật chuyên ngành; so sánh kết quả giao kết hợp đồng thực tế của công ty với mục tiêu kế hoạch ban đầu.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập thông tin thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu nghiên cứu, và thu thập thông tin sơ cấp từ hồ sơ, chứng từ, sổ sách, bảng báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2015 - 2017 của Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh.
  • Các phương pháp bổ trợ: Vận dụng phương pháp quan sát thực tế tại văn phòng doanh nghiệp, suy luận logic, phỏng vấn cán bộ chuyên môn và phương pháp liệt kê văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ:

  • Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ: Tác giả truy nguyên khái niệm hợp đồng từ thời kỳ La Mã cổ đại đến pháp luật thực định của Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga và Điều 385 BLDS 2015 của Việt Nam. Trên cơ sở định nghĩa dịch vụ theo Luật Giá 2012 (hàng hóa vô hình, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời), khóa luận xác định hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại mang hai đặc tính chung của hợp đồng dân sự: là hợp đồng song vụ (quyền của bên này tương ứng nghĩa vụ của bên kia) và hợp đồng ưng thuận (có hiệu lực tại thời điểm các bên đạt được thỏa thuận về nội dung chủ yếu). Đồng thời, loại hợp đồng này mang bốn đặc điểm thương mại riêng biệt: (1) đối tượng là hành vi thực hiện một công việc vô hình; (2) bên cung ứng dịch vụ bắt buộc phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh; (3) nội dung gắn với mục tiêu thù lao hoặc lợi nhuận; (4) hình thức được thiết lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi, trong đó nhiều phân ngành thương mại luật định bắt buộc phải bằng văn bản (như dịch vụ khuyến mại, quảng cáo thương mại, đại lý, đại diện thương nhân).
  • Bản chất của giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ: Là quá trình bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các bên thông qua hai giai đoạn liên hoàn là đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết, được thực hiện qua phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
  • Cơ sở ban hành và tiến trình phát triển pháp luật: Khóa luận hệ thống hóa các mốc lập pháp điều chỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Việt Nam, từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, BLDS 1995, LTM 1997, BLDS 2005 đến hai văn bản then chốt đang có hiệu lực thi hành là LTM 2005 (luật chuyên ngành, quy định tại Chương III) và BLDS 2015 (luật chung, quy định tại Mục 7 Chương XV và Mục 9 Chương XVI).
  • Các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh: Xác lập 4 nguyên tắc cơ bản gồm: (1) Nguyên tắc bình đẳng, được pháp luật bảo hộ như nhau về quyền nhân thân và tài sản; (2) Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhưng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; (3) Nguyên tắc thiện chí, trung thực; (4) Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ. Thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Chương 2 phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh, gắn với tình hình thực tế áp dụng tại doanh nghiệp khảo sát:

  • Tổng quan bối cảnh và đối tượng khảo sát: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với việc tham gia ASEAN (1995), gia nhập WTO (2007) và tham gia 12 FTA với 56 quốc gia tính đến tháng 4/2016 đã thúc đẩy số lượng hợp đồng dịch vụ tăng trưởng. Đơn vị khảo sát là Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh (có 12 năm thành lập và phát triển tính đến thời điểm nghiên cứu), hoạt động chính trong mảng xây dựng dân dụng, giao thông và thủy lợi; đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Trung Kiên - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
  • Thực trạng quy định và thực tiễn triển khai các khâu giao kết:
    • Về trình tự giao kết: Đề tài chỉ ra điểm hạn chế tại Điều 393 BLDS 2015 khi định nghĩa chấp nhận giao kết là "sự trả lời" mà không đề cập cụ thể đến việc chấp nhận bằng hành vi; đồng thời Khoản 2 Điều 394 BLDS 2015 sử dụng cụm từ "trả lời ngay" nhưng chưa có văn bản hướng dẫn định lượng thời hạn cụ thể. Tại công ty, việc giao kết qua phương thức trực tiếp chiếm tỷ trọng khoảng 65% tổng số hợp đồng đã ký kết, thực hiện qua 3 giai đoạn: tiếp cận giới thiệu dịch vụ -> chuẩn bị đàm phán -> đàm phán và ký kết. Phương thức gián tiếp chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, áp dụng cho khách hàng có khoảng cách địa lý xa.
    • Về hình thức hợp đồng: Căn cứ Điều 74 LTM 2005, công ty áp dụng cả ba hình thức (văn bản, lời nói, hành vi). Trong đó, hình thức văn bản giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt đối với các công trình có giá trị lớn hoặc khách hàng mới; công ty sử dụng mẫu hợp đồng sẵn có để tiết kiệm thời gian. Hình thức bằng lời nói hoặc hành vi chỉ áp dụng với các gói dịch vụ đơn giản, thời gian thực hiện ngắn hoặc đối tác truyền thống có mức độ tin cậy cao.
    • Về nội dung hợp đồng: Thực hiện theo Điều 398 BLDS 2015, nội dung hợp đồng bao gồm các điều khoản cơ bản, thông thường và tùy nghi. Tác giả lưu ý BLDS 2015 không phân định bắt buộc các điều khoản cụ thể, tiềm ẩn rủi ro cho các doanh nghiệp chưa hoàn thiện năng lực pháp lý. Thực tế tại công ty, các hợp đồng dịch vụ luôn đi kèm phụ lục hợp đồng quy định chi tiết về biện pháp thi công và phương thức thực hiện.
    • Về thẩm quyền chủ thể: Xác định rõ người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền bằng văn bản (quy định rõ họ tên, chức vụ, phạm vi và thời hạn ủy quyền) nhằm ngăn ngừa tình trạng hợp đồng vô hiệu do vượt quá thẩm quyền.
Tiêu chí Phương thức trực tiếp Phương thức gián tiếp
Tỷ trọng thực hiện Chiếm khoảng 65% tổng số hợp đồng Chiếm phần còn lại (khoảng 35%)
Quy trình áp dụng 3 giai đoạn: Tiếp cận khách hàng -> Chuẩn bị đàm phán -> Đàm phán, ký kết Gửi văn bản đề nghị giao kết -> Nhận văn bản chấp thuận/đề nghị mới
Ưu thế ghi nhận Linh hoạt điều chỉnh nội dung, tạo sự tin cậy đối với đối tác lớn Tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian đàm phán ban đầu
Hình thức thể hiện Văn bản ký trực tiếp, thỏa thuận miệng (với việc đơn giản) Hợp đồng gửi qua bưu chính, fax hoặc phương tiện điện tử
  • Đánh giá thành tựu và hạn chế:
    • Thành tựu: Công ty đã mở rộng thi công nhiều công trình quy mô lớn như chung cư cao tầng DN15 (khu đô thị mới Văn Phú, Hà Đông, Hà Nội); thi công nền đường và thoát nước Km 16+00 đến Km 22+511.14m thuộc dự án đường ĐT 499 giai đoạn 1 (từ cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đến đê sông Hồng, nối Hà Nam - Thái Bình); nâng cấp, sửa chữa hồ thị trấn Đăk Mâm (huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông). Kết quả kinh doanh giai đoạn 2015 - 2017 tăng trưởng liên tục, công ty hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và không để xảy ra vi phạm pháp luật.
    • Bất cập từ hệ thống pháp luật: Tồn tại xung đột giữa BLDS và LTM; nhiều phân ngành dịch vụ thiếu quy chế điều chỉnh chi tiết (dịch vụ nghiên cứu thị trường, lâm nghiệp, nhiếp ảnh, đóng gói, hội nghị...); văn bản thay đổi thường xuyên, thiếu tính tiên liệu; quy định trong nước chưa tương thích hoàn toàn với chuẩn mực GATS/WTO và chưa thừa nhận rộng rãi án lệ, tập quán quốc tế.
    • Bất cập tại doanh nghiệp: Công ty chưa lập phòng pháp chế chuyên trách; việc cập nhật văn bản pháp luật mới chưa thường xuyên; các điều khoản hợp đồng soạn thảo còn chung chung, đặc biệt là điều khoản về tranh chấp và giải quyết tranh chấp.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Trên cơ sở các phát hiện ở Chương 2, Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp xử lý:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật (về phía Nhà nước):
    • Rà soát, đồng bộ hóa các quy định giữa BLDS 2015 và LTM 2005, xóa bỏ sự phân biệt gây chồng chéo giữa chế định hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế.
    • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về các thuật ngữ còn trừu tượng trong BLDS 2015, làm rõ các hình thức của "sự trả lời" tại Điều 393 và xác định khung thời gian cụ thể cho việc "trả lời ngay" tại Khoản 2 Điều 394.
    • Xây dựng quy chế pháp lý điều chỉnh các phân ngành dịch vụ mới phát sinh nhằm tạo thuận lợi cho công tác cấp đăng ký kinh doanh và quản lý giao kết hợp đồng.
    • Nâng cao tính tương thích giữa pháp luật thương mại dịch vụ Việt Nam với các cam kết WTO/GATS, mở rộng việc thừa nhận và áp dụng án lệ, tập quán thương mại quốc tế.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng (về phía công ty):
    • Thành lập bộ phận pháp chế độc lập nhằm thẩm định chuyên sâu tính pháp lý của hồ sơ, hợp đồng trước khi ký kết.
    • Bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kỹ năng đàm phán hợp đồng cho cán bộ, nhân viên phòng kinh doanh.
    • Chuẩn hóa hệ thống hợp đồng mẫu, rà soát chặt chẽ thẩm quyền ủy quyền của đối tác và cụ thể hóa các điều khoản giải quyết tranh chấp (chỉ định rõ cơ quan tài phán Tòa án nhân dân hoặc Trọng tài thương mại, luật áp dụng, phân định chi phí).

Kết quả và đóng góp

  • Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về chế định hợp đồng cung ứng dịch vụ thông qua phương pháp luật so sánh, chỉ rõ các đặc trưng pháp lý của hợp đồng dịch vụ thương mại dưới sự điều chỉnh song song của BLDS 2015 và LTM 2005.
  • Cung cấp dữ liệu thực tế về thực trạng giao kết hợp đồng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh: chỉ ra phương thức ký trực tiếp chiếm tỷ lệ 65%, chứng minh năng lực thực hiện qua các hợp đồng thi công xây dựng cụ thể (dự án chung cư DN15 Văn Phú, đường ĐT 499 nối Hà Nam - Thái Bình, công trình hồ Đăk Mâm tại Đăk Nông) và dữ liệu kết quả kinh doanh giai đoạn 2015 - 2017.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp trong BLDS 2015 (thiếu định lượng thời hạn "trả lời ngay" tại Điều 394, thiếu hình thức chấp nhận bằng hành vi tại Điều 393) và sự thiếu vắng quy chế điều chỉnh các phân ngành dịch vụ chuyên biệt trong LTM 2005.
  • Đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính ứng dụng: hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đối với các quy định về đề nghị/chấp nhận giao kết ở tầm vĩ mô, và thành lập bộ phận pháp chế, chuẩn hóa điều khoản giải quyết tranh chấp ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận được thực hiện trong phạm vi một khóa luận cử nhân, bị giới hạn về quỹ thời gian nghiên cứu và nguồn tư liệu thực tiễn. Dữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào một doanh nghiệp xây lắp cụ thể (Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh), do đó tính đại diện đối với toàn bộ các phân ngành dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế chưa thật sự toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn tại nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành dịch vụ phi vật chất khác (tư vấn pháp lý, tài chính, kiểm toán, dịch vụ công nghệ); đi sâu phân tích thực tiễn xét xử tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Tòa án nhân dân và Trung tâm Trọng tài thương mại; đánh giá tác động của việc thực thi các FTA thế hệ mới đối với giao kết hợp đồng dịch vụ xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ trực tiếp cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh tại các cơ sở đào tạo đại học (đặc biệt là Đại học Thương mại, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) có nhu cầu tìm hiểu về chế định hợp đồng cung ứng dịch vụ và phương pháp đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn doanh nghiệp.
  • Cán bộ pháp chế, chuyên viên phòng kinh doanh tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, giao thông, thủy lợi, có thể tham khảo trực tiếp quy trình kiểm soát chủ thể đại diện theo ủy quyền, mẫu phân loại điều khoản hợp đồng và cách thức thiết lập phụ lục hợp đồng nhằm hạn chế tranh chấp.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận chỉ ra điểm vướng mắc pháp lý cụ thể nào tại Điều 393 và Điều 394 BLDS 2015 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng?
Khóa luận chỉ ra rằng Điều 393 BLDS 2015 định nghĩa chấp nhận là "sự trả lời" mà không liệt kê cụ thể các phương thức biểu đạt, dễ dẫn đến cách hiểu hạn hẹp rằng việc chấp nhận chỉ được thực hiện qua văn bản hoặc lời nói, bỏ sót trường hợp chấp nhận bằng hành vi cụ thể. Đồng thời, Khoản 2 Điều 394 BLDS 2015 quy định thông báo chấp nhận đến chậm vẫn có hiệu lực trừ khi bên đề nghị "trả lời ngay không đồng ý", nhưng văn bản luật lại không định lượng rõ mốc thời gian thế nào được coi là "trả lời ngay", gây lúng túng cho các bên trong việc xác định hiệu lực giao kết.

Tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh, phương thức giao kết hợp đồng nào chiếm ưu thế và tỷ lệ là bao nhiêu?
Phương thức giao kết trực tiếp chiếm ưu thế tại công ty với tỷ lệ khoảng 65% tổng số hợp đồng cung ứng dịch vụ đã ký kết. Quy trình giao kết trực tiếp được thực hiện qua 3 giai đoạn chặt chẽ: (1) tiếp cận và giới thiệu dịch vụ cho khách hàng; (2) chuẩn bị đàm phán (lựa chọn cán bộ, xác định mục tiêu, nội dung, thời gian và địa điểm); (3) đàm phán và ký kết hợp đồng.

Việc kiểm soát thẩm quyền chủ thể tham gia giao kết hợp đồng được công ty triển khai như thế nào?
Công ty xác định thẩm quyền ký kết thuộc về người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Trung Kiên - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đối với các hợp đồng giao kết thông qua người đại diện theo ủy quyền, công ty yêu cầu văn bản ủy quyền phải lập thành văn bản rõ ràng, quy định cụ thể họ tên, chức vụ, phạm vi công việc được ủy quyền và thời hạn ủy quyền nhằm ngăn chặn rủi ro hợp đồng vô hiệu do ký kết vượt quá thẩm quyền.

Những công trình thi công tiêu biểu nào được tác giả trích dẫn để minh chứng cho năng lực thực hiện hợp đồng của công ty?
Khóa luận trích dẫn các công trình thực tế gồm: thi công chung cư cao tầng DN15 thuộc khu đô thị mới Văn Phú (quận Hà Đông, Hà Nội); thi công hạng mục nền đường và thoát nước từ Km 16+00 đến Km 22+511.14m thuộc dự án đường ĐT 499 giai đoạn 1 (tuyến nối cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đến đê sông Hồng giữa Hà Nam và Thái Bình); nâng cấp, sửa chữa công trình hồ thị trấn Đăk Mâm (huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông).

Doanh nghiệp khảo sát đang gặp phải những hạn chế nội tại nào trong hoạt động giao kết hợp đồng dịch vụ?
Công ty chưa thành lập bộ phận pháp chế chuyên trách mà chủ yếu do phòng kinh doanh kiêm nhiệm; việc cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh quan hệ hợp đồng còn chậm; các điều khoản soạn thảo trong hợp đồng còn mang tính khái quát, thiếu sự chi tiết, đặc biệt là điều khoản về giải quyết tranh chấp.

Kết luận

Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ theo quy định của BLDS 2015 và LTM 2005. Thông qua khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh, công trình đã làm sáng tỏ quy trình đàm phán, phương thức ký kết và các biện pháp bảo đảm tính hợp pháp của chủ thể hợp đồng trong lĩnh vực xây lắp hạ tầng. Đồng thời, đề tài đã nhận diện xác đáng các bất cập của hệ thống pháp luật thực định và tồn tại nội bộ của doanh nghiệp, làm cơ sở khoa học để đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp quản trị hợp đồng có giá trị ứng dụng thực tiễn.