CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Mặc dù đã xuất hiện trong một thời gian khá dài nhưng DNXH Việt Nam mới được cộng đồng Việt Nam chú ý đến gần đây như là một cách tiếp cận sáng tạo và có định hướng thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội. Do vậy, những công trình khoa học về DNXH của Việt Nam còn khá ít, cả về phương diện thực tiễn lẫn phương diện pháp lý.
Báo cáo nghiên cứu khảo sát với chủ đề: “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách”, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) hợp tác với Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) thực hiện10. Báo cáo gồm có hai phần chính. Phần đầu trình bày một số quan niệm chủ yếu về DNXH trên thế giới và khái niệm DNXH của CISP, các đặc điểm của DNXH và phân biệt DNXH với các tổ chức và phong trào xã hội khác. Báo cáo cũng mô tả bức tranh tổng thể về sự phát triển của DNXH ở Việt Nam trước và sau “Đổi mới” và phân loại các loại hình tổ chức của DNXH ở Việt Nam.
Phần thứ hai của Báo cáo nêu kinh nghiệm của một số nước như Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore về phát triển DNXH. Sau khi phân tích thực trạng DNXH ở Việt Nam, Báo cáo có nêu một số kiến nghị về cơ chế chính sách để phát triển DNXH ở Việt Nam. Có thể nói, Báo cáo này về cơ bản đã đạt được mục tiêu nghiên cứu là: (i) thúc đẩy nhận thức của xã hội về DNXH; và (ii) đặt những viên gạch đầu tiên cho một cuộc thảo luận về chính sách phát triển DNXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, do Báo cáo được thực hiện dưới lăng kính của các nhà hoạt động thực tiễn và cơ quan nghiên cứu về chính sách kinh tế; lại được hoàn thành trước khi DNXH được ghi nhận về 10 British Council, CIEM, CSIP (2012), tlđd số 6.
17 mặt pháp lý trong LDN 2014; nên những luận bàn về khía cạnh pháp luật không được đào sâu. Mặt khác, do ra đời sau LDN 2014 nên quan niệm và loại hình tổ chức của DNXH trong Báo cáo không đồng nhất với qui định của LDN 2014 11. Hơn nữa, với tư cách là một báo cáo khảo sát, các phân tích về lý thuyết DNXH, thực trạng DNXH ở Việt Nam và kinh nghiệm của các quốc gia trong phát triển DNXH chỉ ở mức độ khái quát. Năm 2018, được tài trợ bởi Trường Đại học Kinh tế quốc dân và Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của PGS.
Trương Thị Nam Thắng đã hoàn thành công trình “Thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam”12. 60 cá nhân đã tham gia phỏng vấn và hơn 500 đại diện doanh nghiệp đã trả lời bảng hỏi khảo sát điều tra phục vụ cho các vấn đề nghiên cứu. Mục tiêu chung của công trình này là cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ sinh thái cũng như thực trạng cho doanh nghiệp tạo tác động ở Việt Nam, những khó khăn và cơ hội của khu vực này từ đó phát triển những khuyến nghị chính sách cũng như các lời khuyên quản trị cho doanh nghiệp. Tiếp nối các công trình nghiên cứu trên, “Báo cáo nghiên cứu hiện trạng DNXH tại Việt Nam”13 do CIEM phối hợp với Chương trình DNXH toàn cầu của Hội đồng Anh thực hiện từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019 và được công bố vào ngày 22/3/2019.
Với những thông tin, số liệu thống kê rất hữu ích, phản ánh thực trạng và tiềm năng phát triển của DNXH sau 10 năm được thúc đẩy tại Việt Nam, báo cáo này cũng đã đưa ra những đánh giá và nhận định về các chính sách quan trọng hỗ trợ DNXH. 11 Theo Báo cáo này, “các DNXH hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý khá đa dạng, từ doanh nghiệp thông thường đến câu lạc bộ, hiệp hội”. Trong 167 DNXH tham gia khảo sát, có 55 trung tâm, 30 công ty, 27 hiệp hội và câu lạc bộ, 17 hợp tác xã và 20 các tổ chức khác (tr. Trong khi đó, tại điều 10 LDN 2014, DNXH phải đáp ứng ba tiêu chí, trong đó tiêu chí đầu tiên là: “Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo qui định của Luật này”.
12 Trường ĐH Kinh tế quốc dân, UNDP (2018), Thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam, Hà Nội. Tham khảo tại: http://www.org/content/dam/vietnam/docs/Publications/Foster%20SIB%20Sector%20in%20Vietna m-V-ebook.pdf, truy cập vào ngày 18/12/2018. 13 British Council, CIEM, Social enterprise UK (2019), “Social enterprise in Vietnam”, tr. Tham khảo từ https://www.com/BritishCouncilVietnam/posts/2143280702424394/, truy cập ngày 08/02/2020.
18 Năm 2020, trong khuôn khổ Đề tài cấp Nhà nước KX.44/16-20, Trường Đại học Kinh tế quốc dân và Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Vai trò của khu vực DNXH đối với phát triển xã hội”. Trong kỷ yếu của Hội thảo này, một trong những công trình đáng chú ý là Báo cáo sơ bộ dựa trên việc xử lý nhanh các dữ liệu điều tra, khảo sát về DNXH cho đến tháng 07/2020. Mục tiêu của Báo cáo là đánh giá hiệu lực của LDN 2014 đối với khu vực DNXH; xem xét và đánh giá các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của DNXH; những đóng góp của DNXH từ khi có LDN 2014; từ đó, đưa ra các kiến nghị và khuyến nghị về pháp lý, chính sách, cũng như phối hợp các yếu tố bên trong hệ sinh thái nhằm phát triển khu vực này14. Trong lĩnh vực luật học, gần đây, DNXH bắt đầu nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Việt Nam.
Liên quan đến hình thức pháp lý của DNXH, tác giả Phan Thị Thanh Thủy (2015) có bài “Hình thức pháp lý của DNXH: kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam”. Tác giả đã tập trung giới thiệu và phân tích các hình thức pháp lý của DNXH tại Anh và so sánh với hình thức pháp lý của DNXH tại Việt Nam; từ đó rút ra các nhận định mang tính gợi mở để góp phần hoàn thiện pháp luật về DNXH ở Việt Nam. Cụ thể, tác giả đề xuất: i) công nhận và khuyến khích quyền thành lập DNXH cho các chủ thể kinh doanh ở các qui mô khác nhau như: cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh mà không nhất thiết buộc chủ thể phải thành lập doanh nghiệp theo LDN 2014; ii) công nhận các HTX thành lập theo Luật HTX 2012 có cam kết mục tiêu xã hội là HTXXH; iii) để khuyến khích các tổ chức từ thiện chuyển đổi thành DNXH cần những qui định và hỗ trợ cụ thể15. Cùng quan điểm với tác giả Thanh Thủy, Vũ Phương Đông cũng cho rằng cần một mô hình để DNXH Việt Nam phát triển16.
14 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2020), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp quốc gia “Vai trò của khu vực DNXH với phát triển xã hội”, Nxb. Lao động, Hà Nội, 8/2020. 15 Phan Thị Thanh Thủy (2015), “Hình thức pháp lý của DNXH: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐH QG Hà Nội: Luật học, số 4/2015, tr. 16 Vũ Phương Đông (2012),“Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam- cần một mô hình để phát triển”, Tạp chí Luật học, số 9/2012.
19 Tác giả Nguyễn Thị Dung (2017) có bài viết “Đánh giá khả năng thực thi pháp luật hiện hành về DNXH ở Việt Nam”17. Thông qua các nghiên cứu khảo sát về DNXH và thực tiễn hoạt động của các DNXH tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra các nhận xét về tư cách pháp lý của DNXH trước và sau khi có LDN năm 2014. Đặc biệt, khi đánh giá về khả năng thực thi các qui định mới về DNXH, tác giả cho rằng, pháp luật hiện hành đã xuất phát từ lợi ích quản lý nhà nước nhiều hơn là xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp. Do đó, tác giả nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DNXH gồm: bổ sung qui định coi DNXH là đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư; qui định rõ nghĩa vụ thông báo và công khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp hàng năm có sử dụng các khoản viện trợ, tài trợ dành cho các mục tiêu xã hội; có qui định chế tài đối với các vi phạm pháp luật về DNXH.
Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy có bài “Legal and Policy Issues of Social Enterprise in Vietnam: Some Suggestions from Taiwan”18 (Tạm dịch: Các vấn đề chính sách và pháp lý của DNXH ở Việt Nam: một số đề xuất từ kinh nghiệm của Đài Loan). Bài viết đã phân tích bối cảnh, chính sách và khung pháp lý cho DNXH ở Việt Nam so với ở Đài Loan, để tìm hiểu và giải thích những bất cập trong pháp luật và chính sách của Việt Nam, cản trở sự phát triển của DNXH; đồng thời đưa ra các khuyến nghị để thúc đẩy mô hình kinh doanh này. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Xuất hiện cách đây vài thập kỷ và hiện đang lan tỏa ở nhiều nước trên thế giới, DNXH đã và đang trở thành chủ đề nghiên cứu sôi nổi trên diễn đàn quốc tế. Có rất nhiều công trình khoa học, sách, bài viết bằng tiếng nước ngoài (phần lớn là tiếng Anh) về DNXH.
Các tài liệu nghiên cứu này chính là những tài liệu tham khảo chủ yếu, liên quan mật thiết đến việc nghiên cứu đề tài luận án của tác giả, có thể phân thành các nhóm vấn đề lớn, như sau: 17 Nguyễn Thị Dung (2017), “Đánh giá khả năng thực thi pháp luật hiện hành về DNXH ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 1/2017, tr. 18 Phan Thị Thanh Thuỷ (2018), “Legal and Policy Issues of Social Enterprise in Vietnam: Some Suggestions from Taiwan”, 東海大學法學研究第五十五期. Nhóm tài liệu về những vấn đề lý thuyết cơ bản của DNXH Do những vấn đề lý thuyết cơ bản về DNXH là nội dung đặt cơ sở nền tảng cho các nghiên cứu khác liên quan đến DNXH nên hầu hết các công trình, bài viết đều dành phần đầu để đề cập đến vấn đề này, cá biệt có những công trình tập trung làm rõ quan niệm về DNXH. Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, chúng tôi thấy lý thuyết cơ bản về DNXH tập trung vào các vấn đề chính sau: i) Về định nghĩa doanh nghiệp xã hội Đây là một trong những chủ đề được bàn luận sôi nổi trong các công trình nghiên cứu.