CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Định nghĩa cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranh là một thuật ngữ xuất hiện lâu đời, được mọi người sử dụng thường xuyên trong đời sống xã hội. Để đưa ra một khái niệm nhất quán về cạnh tranh là gì thì thực sự khó khăn.
Bởi hiện nay khi nghiên cứu chúng ta liền phát hiện rằng cạnh tranh được định nghĩa theo nhiều cách. Cạnh tranh trong từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, thể thao. được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nếu tìm đến các quyển từ điển của những quốc gia khác nhau để xem về khái niệm của cụm từ “cạnh tranh” thì chắc hẳn sẽ rất khó để tất cả đều cho ra một kết quả giống nhau tuyệt đối.
Đơn cử nhất, theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh (1948), Cạnh tranh tiếng anh là “competition” được định nghĩa như sau: “Một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về phía mình”. Còn theo Từ điển tiếng Việt (1988), Viện ngôn ngữ học, “cạnh tranh” chính là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”. Tuy không giống nhau hoàn toàn, nhưng xét về mặt bản chất và nội hàm đằng sau hai từ “cạnh tranh” dường như cũng mang điểm chung nhất định. Trên đấy là nội hàm cạnh tranh tranh hiểu theo nghĩa rộng nhất, còn trên góc độ cạnh tranh kinh tế, nhà kinh tế học Michael Porter (Competitive Strategy: Techniques for Analyzing Industries and Competitors,1980) của Mỹ đưa ra quan điểm như sau: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Dưới góc độ kinh tế học, hàm nghĩa của từ cạnh tranh là quá trình tranh đấu không ngừng nghỉ giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường với mục đích về lợi ích kinh tế và những mục tiêu khác đã định sẵn. Lợi ích chính là động lực nội tại mạnh mẽ 9 của cạnh tranh đối với các chủ thể kinh tế. Việc các doanh nghiệp giữ vững hay mở rộng thị phần, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận đều là biểu hiện một phần của cạnh tranh.
Còn việc đọ sức kịch liệt một sống một còn, kẻ thất bại bị đào thải khỏi thị trường của các chủ thể kinh tế chính là áp lực bên ngoài của cạnh tranh mang lại. Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường như chưa thỏa mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Dựa trên bản chất thực sự của cụm từ “cạnh tranh” mà đưa ra một khái niệm hiểu theo nghĩa rộng nhất. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa vấn đề, chúng ta cần đặt nó dưới góc độ và hướng tiếp cận phù hợp.
Bởi vậy khi nghiên cứu cạnh tranh trong LVNH, để đưa ra khái niệm thế nào là “cạnh tranh trong LVNH” thì ngoài phải cắt nghĩa được từ cạnh tranh ra còn phải đặt nó vào trong LVNH đang nghiên cứu để có được một khái niệm vừa phù hợp vừa hoàn chỉnh. Với những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa: Cạnh tranh trong LVNH là việc các NH tiến hành thực hiện những hoạt động nhằm tranh đấu không ngừng nghỉ trong thị trường tài chính-NH với mục đích đạt được lợi nhuận cao, chiếm được thị phần khách hàng lớn, mở rộng quy mô kinh doanh, đạt được những mục đích về vị thế trên thị trường cũng như trong lòng khách hàng hoặc để đạt được những mục tiêu mà chủ doanh nghiệp (NH) đã đặt ra từ trước. Đặc điểm của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranh trong LVNH ngoài mang những đặc điểm chung của cạnh tranh thì nó còn mang những nét riêng biệt khó pha lẫn vào ngành nào khác điển hình như sau: Thứ nhất, xuất phát từ NH là lĩnh vực mang trên mình đầy những rủi ro có tính hệ thống. NH là lĩnh vực vô cùng đặc biệt, đây là ngành nghề có mức độ rủi ro lớn và dễ dẫn đến hiệu ứng domino cho cả ngành.
Ngành chịu sự kiểm soát vô cùng chặt chẽ của Nhà nước. Bên cạnh đó đối thủ cạnh tranh trong thị trường NH cũng mang nét riêng khác biệt so với ngành khác. Số lượng đối thủ trong ngành sẽ có giới hạn nhất định, đi kèm là sự tăng lên hay giảm bớt về mặt số lượng là rất hạn chế, đặc biệt điều đó đôi khi còn không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong ngành. Cũng bởi sự quản lí vô cùng chặt chẽ của Pháp luật NH Việt Nam cũng như sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước mà đã mang lại những đặc điểm có tính đặc thù của môi trường cạnh tranh như vậy trong lĩnh vực dịch vụ NH.
10 Thứ hai, sự đặc biệt của các đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường. Ngoài sự khác biệt về các chủ thể cạnh tranh với nhau, sự giới hạn của số lượng các đối thủ thì các đối thủ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ NH thường có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tác nghiệp kinh doanh. Nói cách khác ở ngành khác doanh nghiệp sẽ có thể hoạt động riêng lẻ, vẫn tồn tại và phát triển bình thường được còn trong ngành này còn xuất hiện thêm một khái niệm thường được mọi người dùng là “thị trường liên NH”. Sự liên kết này là tất yếu, bởi lẽ không một tổ chức tín dụng nào có thể hoạt động được một cách bình thường trong thị trường đặc biệt này nếu không có sự liên kết bình đẳng, thân thiện và minh bạch với các đối thủ khác.
Chính sự liên kết mang tính tự nhiên giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ NH khiến cho mối quan hệ cạnh tranh giữa họ trở nên ít khốc liệt hơn. Thứ ba, xuất phát từ việc định hướng và quản lý quá mức của Nhà nước. Trong thị trường dịch vụ NH, bàn tay Nhà nước dường như giang ra khá rộng. Mặc dù Nhà nước vẫn chấp nhận và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các đối thủ tham gia thị trường nhưng vì mục tiêu giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế và quyền lợi của công chúng gửi tiền hay các chủ thể vay tiền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh này bằng việc thực thi những chính sách đặc thù như chính sách tiền tệ quốc gia (trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như chính sách tín dụng, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách ngoại hối, chính sách thị trường mở…) hay chính sách kiểm soát đặc biệt.
Sự can thiệp này từ phía công quyền khiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường dịch vụ NH có phần bị thu hẹp. Những quy định đặc thù của “Luật chơi” trong thị trường dịch vụ NH không cho phép các đối thủ cạnh tranh được toàn quyền hành xử theo ý chí của riêng mình chỉ cốt để nhằm thoả mãn những lợi ích tư của chính họ. Các quyết định rõ ràng manh tính cạnh tranh của mỗi đối thủ trên thị trường NH như tăng lãi suất tiền gửi và giảm lãi suất cho vay hoặc đưa ra những điều kiện cho vay dễ dãi để thu hút và lôi kéo khách hàng về phía mình bằng mọi cách đều bị kiểm soát và giám sát chặt chẽ bởi một cơ quan công quyền đặc biệt là NH Nhà nước. Tóm lại, có thể nhận thấy vấn đề cạnh tranh trong LVNH vừa có những điểm tương đồng, vừa có những điểm khác biệt so với nội hàm nguyên thuỷ của khái niệm cạnh tranh trong kinh tế học.
Chính những điểm khác biệt này đã có những ảnh hưởng 11 nhất định đến nội dung điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề cạnh tranh trong LVNH ở Việt Nam. Vai trò của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranh có vai trò đặc biệt với từng đối tượng khác nhau khi đặt dưới từng góc độ nghiên cứu khác nhau, điển hình trong nền kinh tế vai trò của cạnh tranh là không thể phủ nhận đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả một nền kinh tế to lớn. Trong hoạt động của các NH, cạnh tranh có vai trò sau: Thứ nhất, đối với các ngân hàng Thông thường, mọi người đều nhìn thấy cạnh tranh là động lực mạnh mẽ quyết định sự tồn tại và tốc độ phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Các NH cũng không ngoại lệ, kết quả rõ nhất của quá trình cạnh tranh cũng chính là kết quả của quá trình kinh doanh, cung cấp dịch vụ mà các NH đã làm.
Cạnh tranh là động lực to lớn cho sự phát triển của một doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp đó tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của chính mình. Sau cùng, các NH cũng dựa vào cạnh tranh với nhau để quyết định vị trí của mình trên thị trường tài chính - NH thông qua thị phần do mình nắm giữ so với đối thủ cạnh tranh. Thứ hai, đối với người tiêu dùng Cạnh tranh là sự áp lực của thị trường cũng là động lực nội tại cho doanh nghiệp. Nhưng đối với người tiêu dùng, cạnh tranh cũng mang lại những cái lợi không hề nhỏ.
Nhờ có sự cạnh tranh giữa các NH với nhau mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ. Đặc biệt, khách hàng có thể đưa những NH lên bàn cân so sánh để tìm ra những sự hơn kém, tìm ra điểm có lợi nhất cho mình, từ đó lựa chọn NH có dịch vụ tốt nhất mà bản thân hài lòng như lãi suất huy động cao, áp dụng khoa học công nghệ tốt, thái độ phục vụ tốt,. Thứ ba, đối với nền kinh tế Cạnh tranh như một liều thuốc kích thích của nền kinh tế, bởi dưới tác động của cạnh tranh, mọi thứ luôn thay đổi từng ngày bởi nếu không vận động thì không thể phát triển. Vậy cạnh tranh gọi tắt là động lực phát triển.