Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỔ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm hôn nhân và quan hệ hôn nhân l1. Hôn nhan Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể gắn kết với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình.
Khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không phải là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài. Thông thường hôn nhân là kết quả của tình yêu và dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững. Sự bền vững này tồn tại cùng với cuộc đời của các chủ thể và được củng cố bằng các quan hệ phái sinh khác đó là quan hệ của cha mẹ đối với con cái, ông bà đối với cháu chất. Nói cách khác, hôn nhân là cơ sở tạo nên quan hệ vợ chồng và quan hệ huyết thống mà tổng hợp các mối quan hệ này là nền tảng của gia đình.
Vì hôn nhân là cơ sở tạo nên gia đình nên, về mặt khoa học, hôn nhân là một khái niệm gắn liền với khái niệm gia đình. Hai khái niệm này cùng song song tồn tại và phát triển theo lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trong thời kỳ nguyên thủy, khi con người còn sống thành bầy đàn hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên nên chưa có phân công lao động xã hội, do đó chưa có hôn nhân và cũng không có gia đình. Ở thời kỳ này, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi.
Thời kỳ quan hệ tính giao này kéo dài hàng trăm nghìn năm và nó kết thúc bằng sự ra đời của chế độ quần hôn [93, tr. 4] khi có sự phân công lao động xã hội. Tương ứng với chế độ quân hôn là hình thức gia đình quân hôn. Hình thức này được coi là hình thức gia đình sớm nhất [56, tr.
Nó là kết quả liên kết của nhiều người đàn ông với nhiều người đàn bà. Chế độ quần hôn được hình thành và phát triển qua hai giai đoạn chính và được thể hiện dưới hai hình thức gia đình đó là gia đình huyết tộc và gia đình Pu-na-lu-an [93, tr. Sau giai đoạn này là sự ra đời và phát triển của hình thái hôn nhân đối ngẫu và hôn nhân một vợ một chồng, tương ứng với chúng là gia đình đối ngẫu và gia đình có một vợ một chồng. Có thể nói, nhìn vào các hình thái hôn nhân trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau ta thấy sự khác nhau về nội dung của khái niệm hôn nhân.
Trước kia, trong thời kỳ tồn tại hình thức gia đình quần hôn, khái niệm hôn nhân được hiểu là sự liên kết của nhiều người đàn ông với nhiều người đàn bà nhằm tạo thành một gia đình. Ngày nay khi chế độ hôn nhân một vợ một chồng được coi là hình thức hôn nhân tiến bộ thì khái niệm về hôn nhân cũng thay đổi. Nó được hiểu là sự liên kết giữa nam và nữ để tạo nên quan hệ vợ chồng. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân và gia đình mang tính giai cấp sâu sắc.
Lịch sử đã chứng minh trong mỗi hình thái xã hội có các hình thái hôn nhân và gia đình nhất định. Các hình thái hôn nhân và gia đình này phản ánh bản chất xã hội mà hình thái hôn nhân và gia đình đó đang tồn tai. Một xã hội bình dang hay bất bình đẳng giữa người với người sẽ thể hiện ngay trong cuộc sống hôn nhân và gia đình của xã hội đó. Nói cách khác, nhìn vào cuộc sống hôn nhân và gia đình, ta có thể nhận biết được phần lớn thực trạng của đời sống xã hội và ngược lại nghiên cứu cuộc sống xã hội ta có thể thấy được cuộc sống hôn nhân và gia đình, vì hôn nhân và gia đình là hình anh của một xã hội được thu nhỏ.
Nhu đã trình bày ở trên, có thể thấy "hôn nhân" và "gia đình" là hai khái niệm có mối quan hệ gan bó mật thiết với nhau. Nội dung của hai khái niệm này cùng tồn tại và phát triển trong sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, về mặt lý luận thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau và có tính độc lập nhât định. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển - Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 thì khái niệm hôn nhân được hiểu là "việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng" còn gia đình được hiểu là "tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ va con cai" [99].
Theo giải thích của Oxford Advanced Learner's Dictionary do Oxford University Press xuất ban năm 1992 thì "hôn nhân” là su liên kết pháp lý giữa một người đàn ông với một người đàn bà như vợ chồng, còn "gia đình" là nhóm người bao gồm cha mẹ và con cái của họ [111]. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận", còn gia đình được hiểu là "tập hợp những người cùng sống chung, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau” [98]. Theo quy định của khoản 6 và khoản 10 Điều 8 LHNGD Việt Nam năm 2000 thì "hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”, còn "gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau” theo quy định của pháp luật [46]. 10 Từ nội dung của các giải thích trên đây có thé thấy, "hôn nhân" va "gia đình" là hai khái niệm độc lập.
Tính độc lập này được thể hiện ở hai điểm khác nhau cơ bản, đó là sự hình thành và chủ thể tham gia trong đời sống hôn nhân và gia đình. Thư nhất, về sự hình thành: Nếu hôn nhân được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa nam và nữ để xác lập quan hệ vợ chồng, thì gia đình được hình thành trên nhiều cơ sở khác nhau, trong đó hôn nhân được coi là một trong những cơ sở phổ biến. Có lẽ chính vì mối quan hệ khăng khít có tính nhân quả này mà đôi khi khó có thể phân biệt rạch ròi giữa hôn nhân và gia đình. Thứ hai, về chủ thể tham gia: Nếu chủ thể tham gia đời sống hôn nhân là các bên xác lập quan hệ vợ chồng thì trong đời sống gia đình các chủ thể tham gia không những chỉ là vợ chồng mà còn là những người khác dựa trên cơ sở của quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng như con đẻ, ông bà, con nuôi.
Như vậy có thể nói, hôn nhân và gia đình là hai khái niệm mặc dù có quan hệ gán bó với nhau nhưng chúng độc lập. Do đó, việc nghiên cứu quan hệ hôn nhân cũng được đặt trong sự độc lập của nó với việc nghiên cứu quan hệ gia đình. Quan hệ hôn nhân Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa các chủ thể trong hôn nhân, nó được xác lập từ khi các bên nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng và chấm đứt khi các bên không còn quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Có thể nói, việc xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân trước hết hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá nhân trong hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật.
Quan hệ hôn nhân là loại quan hệ pháp luật dân sự đặc biệt. Tính chất dân sụ và tính chất đặc biệt trong quan hệ hôn nhân được thể hiện như sau: 1] Thứ nhất, tinh chất dân sự trong quan hệ hôn nhân được biểu hiện ở ba điểm cơ bản: Mội là, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hôn nhân giống như đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự. Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì các quan hệ về nhân thân (danh dự, nhân phẩm, uy tín.) và quan hệ tài sản (tài sản chung, tài sản riêng.) của các chủ thể cũng được xác lập và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Về nguyên tắc, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Hai là, phương pháp điều chính quan hệ hôn nhân được dựa trên phương pháp điều chỉnh của luật dân sự [93, tr. Ví dụ, ở Việt Nam mặc dù trong phương pháp điều chỉnh quan hệ hôn nhân có những điểm đặc thù bởi tính chất của quan hệ này nhưng vì được tách ra từ quan hệ dân sự nên phương pháp điều chính của nó được dựa trên phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự. Ba là, các quy định có tính nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự. Ví dụ, trong Bộ luật Dân sự của Việt Nam, các quy định về hôn nhân được ghi nhận tại các điều: Điều 35 (quyền kết hôn), Điều 36 (quyền bình đẳng của vợ chồng), Điều 38 (quyền ly hôn), Điều 57 (đăng ký kết hôn).
Thứ hai, tính đặc biệt trong quan hệ hôn nhân được thể hiện ở yếu tố tình cảm của các bên chủ thể. Có thể nói, tình cảm của các bên chủ thể đối với nhau được coi là cơ sở cơ bản và phổ biến trong việc xác lập quan hệ hôn nhân. Dựa trên yếu tố tình cảm mà quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững lâu dài, không mang tính chất nhất thời và không mang tính chất đền bù ngang giá giống như hầu hết các quan hệ dân sự khác. Hơn nữa, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của mình, các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không chi vì lợi ích của bản thân mà còn vi lợi ích của những người khác trong các quan hệ phá! sinh từ quan hệ hôn nhân như quan hệ huyết thống (cha mẹ với con cái) hoặc quan hệ thân thuộc (cha, mẹ, anh, em, họ hàng của các bén vợ và chồng).