Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Vinh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS., TS. Đỗ Văn Đại, bảo vệ tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh năm 2018. Luận án thuộc chuyên ngành Luật học, đi sâu vào lĩnh vực Tư pháp quốc tế và pháp luật thương mại quốc tế, áp dụng hướng tiếp cận nghiên cứu định tính thuần túy trong khoa học pháp lý.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế nói chung và trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng là một thực tế khách quan trong bối cảnh tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế. Cho dù các hiệp định thương mại song phương và đa phương được ký kết ngày càng nhiều, sự khác biệt trong quy định pháp luật giữa các quốc gia đối với cùng một vấn đề pháp lý vẫn luôn tồn tại. Để giải quyết xung đột này, xu hướng quốc tế phát triển mạnh mẽ theo hướng cho phép các bên tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng, qua đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể và tạo cơ sở để pháp luật nước ngoài được đối xử bình đẳng với pháp luật trong nước.

Tại Việt Nam, vấn đề lựa chọn pháp luật đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự qua các thời kỳ (đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015) và các luật chuyên ngành như Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Hàng hải năm 2015. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra hệ thống pháp luật thực định Việt Nam vẫn tồn tại sáu bất cập và thiếu sót lớn:

  1. Các quy định hiện hành chưa tạo lập căn cứ pháp lý đầy đủ, vững chắc cho các chủ thể kinh doanh thực hiện quyền lựa chọn pháp luật trên thực tế, cũng như cho cơ quan tài phán khi áp dụng luật do các bên chọn.
  2. Việc lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài chưa được thừa nhận một cách minh thị là một quyền năng pháp lý của chủ thể kinh doanh.
  3. Các quy định về quyền lựa chọn pháp luật chưa được pháp điển hóa thành một chế định pháp luật độc lập, điển hình.
  4. Quy định về quyền chọn luật trong Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành còn thiếu thống nhất, xuất hiện mâu thuẫn giữa pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành.
  5. Nguyên tắc, nội dung, phạm vi và hình thức của quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại chưa được quy định đầy đủ.
  6. Còn thiếu vắng các quy định cụ thể về quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh ngoài hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nội hàm quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài; phân tích căn cứ pháp lý của việc giới hạn quyền lựa chọn pháp luật nhằm tăng cường quyền tự định đoạt của các chủ thể, bảo đảm pháp luật được lựa chọn có phạm vi áp dụng rộng nhất nhưng không phương hại đến các giá trị nền tảng của hệ thống pháp luật Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại: làm rõ khái niệm, nội dung, phạm vi các mối quan hệ cần điều chỉnh, loại hình chủ thể có quyền chọn luật và vai trò của pháp luật về quyền lựa chọn pháp luật.
  2. Nghiên cứu các nguyên tắc, căn cứ, nội dung và phạm vi của quyền lựa chọn pháp luật trong cả hai mảng hoạt động phát sinh từ hợp đồng và phát sinh ngoài hợp đồng (như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền trong thương mại), đồng thời phân tích các quy định giới hạn quyền chọn luật và tác động của chúng.
  3. Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng để chỉ ra các bất cập, vướng mắc trong thực thi; so sánh với các quy định liên quan của pháp luật quốc tế và một số quốc gia nhằm nêu bật những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam.
  4. Luận giải cơ sở khoa học cho các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề pháp lý về lựa chọn pháp luật và quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài; quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế; quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; lý thuyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế; các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia điển hình và các điều ước quốc tế liên quan.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích sinh lợi giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài (loại trừ các quan hệ dân sự tiêu dùng). Yếu tố nước ngoài được xác định trên cơ sở Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015. Luận án nghiên cứu hai mảng quan hệ chủ đạo: quan hệ phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế và quan hệ phát sinh ngoài hợp đồng có liên quan đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát pháp luật Việt Nam trong sự đối chiếu với các nguồn luật quốc tế tiêu biểu gồm: Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Quy tắc Rome I của Liên minh Châu Âu (Quy chế số 593/2008 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng), Quy tắc Rome II của Liên minh Châu Âu (Quy chế số 864/2007 về luật áp dụng cho nghĩa vụ ngoài hợp đồng), Bộ nguyên tắc La Hay năm 2015 về lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế, cùng pháp luật của Hoa Kỳ và một số nước thành viên Liên minh Châu Âu.
  • Phạm vi thời gian: Xem xét thực trạng pháp luật thực định Việt Nam lấy mốc từ năm 2005 (thời điểm ban hành Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2005) đến thời điểm bảo vệ luận án (sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Bộ luật Hàng hải năm 2015 có hiệu lực).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Luận điểm, nội dung chính được trích dẫn
Lý luận chung về hoạt động thương mại quốc tế và quyền chọn luật Denis Tallon (1983), Civil law and Commercial law
Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby (2004), Law and Practice of International Commercial Arbitration
Dominique Bureau (1993), L'influence de la volonté individuelle sur les conflits de lois
Dana Patrick Karam (1987), Conflict of Laws – Contracts
- Denis Tallon chỉ ra Lex Mercatoria ra đời độc lập với luật giáo hội và tập quán pháp để điều chỉnh hoạt động thương nhân vượt ra phạm vi quốc gia.
- Alan Redfern cùng cộng sự xác định hoạt động thương mại là hoạt động của thương nhân nhằm mục đích kiếm lời, mang tính quốc tế khi vượt khỏi biên giới quốc gia.
- Dominique Bureau khẳng định ý chí các bên là phương thức giải quyết xung đột rõ ràng nhất cho cả hợp đồng và ngoài hợp đồng.
- Dana Patrick Karam chỉ rõ tự do ý chí được bảo hộ trong Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC).
Quyền lựa chọn pháp luật đối với nghĩa vụ hợp đồng Michael Pryles, Jeff Waincymer, Martin Davies (1996), International Trade Law
Harald Koch, Ulrich Magnus (1996), IPR and Comparative Law
O’ Brien (1999), Conflict of Laws
Lea Brilmayer (2004), Conflict of Laws - Foundation and Future Directions
Vesna Lazíc (2009), The Impact of Uniform Law on National Law
Larry A. DiMatteo, Lucien Dhooge (2003), International Business Law
Ole Lando, Peter Arnt Nielsen (1999), The Rome I Proposal
Giesela Ruhl (2007), Party Autonomy in the Private International Law of Contract
Alexander J. Bělohlávek (2010), Rome Convention - Rome I Regulation - Commentary
- Michael Pryles và cộng sự nhấn mạnh điều khoản chọn luật giúp tránh bất ổn định, song bị hạn chế bởi "trật tự công" và sự bình đẳng đàm phán.
- Harald Koch và Ulrich Magnus khẳng định luật được chọn ràng buộc các bên dựa trên nguyên tắc tự do ý chí.
- Lea Brilmayer lập luận việc áp dụng luật nước ngoài tạo sự bình đẳng pháp lý giữa luật nước ngoài và luật trong nước.
- Vesna Lazíc chỉ ra tự do chọn luật là nguyên tắc chung của luật hợp đồng quốc tế, bắt nguồn từ luật tư.
- Ole Lando và Peter Arnt Nielsen đề xuất công nhận các thỏa thuận ngầm định.
- Giesela Ruhl phân tích điều kiện luật được chọn phải có mối liên hệ thực tế và không vi phạm trật tự công cộng.
- Alexander J. Bělohlávek phân tích 1800 phán quyết của Tòa Công lý Châu Âu (ECJ) và tòa án thành viên áp dụng Quy tắc Rome I.
Quyền lựa chọn pháp luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng Bernard Hanotiau (1982), The American Conflicts Revolution and European Tort Choice of Law Thinking
Kuratowski (1999), Tort in Private International Law
Mo Zhang (2009), Party Autonomy in Non-Contractual Obligations: Rome II
Carine Briere (2008), bình luận về Quy tắc Rome II
Thomas Kadner Graziano (2009), Freedom to choose the applicable law tort
Peter Huber (2011), Rome II Regulation, Pocket Commentary
- Bernard Hanotiau xem xét quyền chọn luật đối với bồi thường ngoài hợp đồng dựa trên Lex Loci Delicti (luật nơi vi phạm).
- Kuratowski cho rằng việc chọn luật chỉ phát sinh sau khi hành vi vi phạm xảy ra (Lex fori hoặc Lex loci).
- Mo Zhang đánh giá Quy tắc Rome II là bước tiến khi luật hóa quyền tự do ý chí cho nghĩa vụ ngoài hợp đồng.
- Carine Briere hoài nghi tính khả thi thực tế vì các bên ngoài hợp đồng khó đạt thỏa thuận sau khi phát sinh thiệt hại.
- Thomas Kadner Graziano phân tích việc chọn luật có thể diễn ra trước hoặc sau hành vi gây thiệt hại nếu các bên có quan hệ thương mại từ trước.
- Peter Huber chỉ ra phương thức chọn luật gián tiếp qua việc chọn luật của quốc gia thành viên điều ước quốc tế.
Nghiên cứu tại Việt Nam về quyền chọn luật Ngô Huy Cương (2008), Nguồn gốc nghĩa vụ và phân loại nghĩa vụ
Nguyễn Bá Diễn (2007), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Vũ Thị Hạnh (2007), Tạp chí Khoa học Pháp lý
Nguyễn Lê Hoài (2012), Tạp chí Khoa học Pháp lý
Lê Thị Thu Nga (2014), Tạp chí Khoa học Pháp lý
Lê Thị Nam Giang, Phùng Hồng Thanh (2014)
Nguyễn Thị Hồng Trinh (2015), Luận án tiến sĩ
Vũ Thị Hương (2016)
Nhóm tác giả do Lê Thị Nam Giang chủ nhiệm (2017), Đề tài cấp Bộ
- Các tác giả phân tích cơ sở xác định nghĩa vụ, bồi thường ô nhiễm môi trường, sở hữu trí tuệ và đề xuất mở rộng quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ ngoài hợp đồng theo hướng tiếp cận của EU.
- Nguyễn Thị Hồng Trinh chỉ ra các hạn chế của Bộ luật Dân sự năm 2005 do thiếu vắng quy định về quyền chọn luật cho nghĩa vụ ngoài hợp đồng.
- Vũ Thị Hương phê phán điểm bất cập tại Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi buộc áp dụng luật của nước nơi các bên có cùng nơi cư trú hoặc nơi thành lập, làm hạn chế quyền tự định đoạt.
- Đề tài của Lê Thị Nam Giang chỉ rõ tư pháp quốc tế Việt Nam thiếu quy định về thời điểm, hình thức thỏa thuận chọn luật và giới hạn chọn luật trong các lĩnh vực chuyên biệt.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Qua việc tổng thuật các tài liệu trong và ngoài nước, tác giả xác định những khoảng trống khoa học sau:

  • Về mặt lý luận: Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài dưới góc độ là một quyền năng pháp lý của chủ thể kinh doanh; chưa làm rõ ranh giới khái niệm giữa luật, pháp luật, hệ thống pháp luật và nguồn luật được lựa chọn (các quy tắc phi quốc gia, tập quán quốc tế, án lệ); chưa có công trình nào tại Việt Nam phân tích chuyên sâu về nội hàm quyền chọn luật điều chỉnh nghĩa vụ ngoài hợp đồng ngoài phạm vi bồi thường thiệt hại (như buộc chấm dứt hành vi, khắc phục hậu quả, loại bỏ điều khoản trái pháp luật).
  • Về mặt thực tiễn và giải pháp: Chưa có công trình giải quyết mâu thuẫn, chồng chéo giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật chuyên ngành; chưa làm rõ phạm vi luật áp dụng có bao gồm việc điều chỉnh hiệu lực của chính điều khoản thỏa thuận chọn luật hay không; chưa chỉ ra đầy đủ nguyên nhân khiến các cơ quan tài phán tại Việt Nam có xu hướng áp dụng pháp luật Việt Nam thay thế cho luật nước ngoài do các bên thỏa thuận; chưa đề xuất một hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, ổn định lâu dài. Luận án khẳng định đây là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam giải quyết trọn vẹn các vấn đề này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Tác giả thiết kế bốn câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Các quy định về quyền lựa chọn pháp luật hiện hành có bảo đảm đầy đủ, có cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài thực hiện quyền tự định đoạt, lựa chọn pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và ngoài hợp đồng không?
  2. Quyền lựa chọn pháp luật bị hạn chế trong thực tiễn thực thi phải chăng vì những giới hạn của quyền chọn luật không được quy định rõ ràng trong pháp luật? Các quy định trong pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành có chồng chéo, mâu thuẫn nhau không?
  3. Quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh từ hợp đồng và quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh ngoài hợp đồng có gì khác nhau?
  4. Giải pháp nào để bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam một cách thống nhất, có ý nghĩa định hướng ổn định lâu dài về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài nói chung, cũng như đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và ngoài hợp đồng nói riêng?

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng năm giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam chứng minh:

  1. Các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng không tạo ra căn cứ pháp lý vững chắc và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài thực hiện quyền lựa chọn pháp luật.
  2. Các chủ thể kinh doanh và cơ quan giải quyết tranh chấp tại Việt Nam hiện nay chưa nắm chắc nội hàm của quyền lựa chọn pháp luật, dẫn đến việc trong thực thi và giải quyết tranh chấp không bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên, khiến cơ quan tài phán có thiên hướng quay về áp dụng pháp luật Việt Nam.
  3. Pháp luật các nước thừa nhận quyền chọn luật nhưng quy định khác nhau về căn cứ, phạm vi, cách thức và giới hạn, dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật tiếp diễn ngay trong chính quy định về quyền lựa chọn pháp luật, đòi hỏi phải có sự thống nhất nguyên tắc.
  4. Quyền lựa chọn pháp luật phát sinh từ hợp đồng là quyền năng tự định đoạt gắn với tự do hợp đồng, nên phạm vi, nội dung, giới hạn và điều kiện thực hiện có sự khác biệt rõ nét so với quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng.
  5. Việc sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam đòi hỏi phải xác định được các yêu cầu cụ thể về mặt kỹ thuật lập pháp và các điều kiện tổ chức thực thi thực tế nhằm mở rộng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự.

Các lý thuyết và khung phân tích được vận dụng

Luận án vận dụng hệ thống sáu lý thuyết pháp lý nền tảng:

  • Học thuyết về quyền tự do ý chí của các bên (Party Autonomy): Nền tảng xuyên suốt của tư pháp quốc tế, gắn liền với nguyên tắc tự do hợp đồng (được quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 1.1 Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế UNIDROIT). Luận án dùng học thuyết này để chứng minh quyền chọn luật là một quyền năng pháp lý vốn có của chủ thể kinh doanh cần được luật hóa thành chế định cơ bản.
  • Học thuyết Tronc commun (Luật liên đới / luật kết hợp chung): Do tác giả Rubino Sammartano đưa ra năm 1987, giả định rằng khi các bên tranh chấp ưu tiên luật của quốc gia mình mà không thể thỏa hiệp, giải pháp khả thi là tìm kiếm và áp dụng những điểm chung tương đồng giữa hai hệ thống pháp luật. Luận án dùng học thuyết này để giải thích việc xác định phạm vi nguồn luật khi xử lý xung đột.
  • Lý thuyết pháp luật (Legal theory): Dựa trên giáo trình phương pháp nghiên cứu luật học của tác giả Phạm Duy Nghĩa (2014), nhằm luận giải bản chất, vai trò, vị trí và tính tất yếu của việc pháp điển hóa quyền chọn luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Lý thuyết về chủ quyền quốc gia (Sovereignty): Khảo sát từ tư tưởng về chủ quyền tuyệt đối của Machiavelli (1532) qua Jean Bodin và Hugo Grotius (thế kỷ 19). Lý thuyết này giải thích căn nguyên vì sao quyền lựa chọn pháp luật của các bên không thể là vô hạn mà luôn chịu sự giới hạn bởi trật tự công, quy phạm mệnh lệnh bắt buộc nhằm bảo vệ lợi ích công cộng của quốc gia nơi tòa án thụ lý.
  • Lý thuyết về xung đột và các hệ thuộc luật: Phân tích các nguyên tắc giải quyết xung đột kinh điển trong tư pháp quốc tế, bao gồm: Luật nhân thân (Lex personalis), Luật nơi cư trú (Lex domicilii), Luật quốc tịch pháp nhân (Lex societatis), Luật nơi có tài sản (Lex rei sitae), Luật do các bên lựa chọn (Lex voluntatis), Luật nơi thực hiện hành vi (Lex loci actus), Luật nơi giao kết hợp đồng (Lex loci contractus), Luật nơi cư trú của người bán (Lex venditoris), Luật nơi xảy ra hành vi vi phạm (Lex loci delicti commissi), và Luật tòa án (Lex fori).
  • Lý thuyết luật học phê phán (Critical legal theory): Cung cấp phương pháp tư duy phản biện, đánh giá tính phù hợp hay bất cập của các quy phạm thực định để đề xuất phương án cải cách.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý định tính:

  • Phương pháp hệ thống hóa: Áp dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 nhằm tập hợp, phân loại các công trình khoa học, quy phạm pháp luật quốc tế và văn bản luật Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích pháp lý: Sử dụng trong tất cả các chương để giải mã các khái niệm, quy tắc giải quyết xung đột và thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp luận giải: Dùng để kiểm chứng các giả thuyết khoa học, làm rõ bản chất quyền năng pháp lý của chủ thể và chứng minh tính hợp lý của các giải pháp lập pháp.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam (năm 2005 và năm 2015), Luật Thương mại năm 2005 với Quy tắc Rome I, Quy tắc Rome II, CISG 1980, Bộ nguyên tắc La Hay năm 2015 và luật pháp Hoa Kỳ nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài. Tác giả phân tích rõ ba mảng nghiên cứu: lý luận chung, quyền chọn luật trong hợp đồng và quyền chọn luật ngoài hợp đồng. Trên cơ sở đó, chương xác định các điểm còn bỏ ngỏ về mặt học thuật và thực tiễn lập pháp tại Việt Nam. Đồng thời, chương 1 thiết lập khung phương pháp luận bao gồm 4 câu hỏi nghiên cứu, 5 giả thuyết nghiên cứu, hệ thống 6 lý thuyết nền tảng (đặc biệt nhấn mạnh học thuyết tự do ý chí và lý thuyết chủ quyền quốc gia) cùng các phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai trong toàn bộ luận án.

CHƯƠNG 2: Những vấn đề lý luận về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề nền tảng về khái niệm và bản chất pháp lý:

  • Khái niệm hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài: Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa khái niệm "yếu tố nước ngoài" theo pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015) và khái niệm "yếu tố quốc tế" trong các công ước quốc tế và pháp luật các nước thuộc hệ thống Common law và Civil law. Hoạt động kinh doanh, thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân nhằm mục đích sinh lợi.
  • Bản chất pháp lý và đặc điểm: Khẳng định quyền lựa chọn pháp luật là một quyền năng pháp lý cơ bản của chủ thể kinh doanh, xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng và quyền tự định đoạt trong luật tư. Tác giả phân định quyền này trong hai lĩnh vực cơ bản: quan hệ phát sinh từ hợp đồng và quan hệ phát sinh ngoài hợp đồng.
  • Vị trí, vai trò của pháp luật về quyền lựa chọn pháp luật: Làm rõ việc ghi nhận quyền này tạo cơ chế giải quyết xung đột minh bạch, giảm thiểu rủi ro pháp lý cho thương nhân, bảo đảm pháp luật nước ngoài do các bên chọn được đối xử bình đẳng với pháp luật sở tại, qua đó thúc đẩy giao lưu kinh tế quốc tế.

CHƯƠNG 3: Quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh từ hợp đồng

Chương 3 đi sâu vào phân tích mảng hợp đồng thương mại quốc tế:

  • Căn cứ pháp lý: Dựa trên nguyên tắc tự do kinh doanh và tự do hợp đồng để khẳng định quyền tự do lựa chọn pháp luật của các bên.
  • Nội dung cụ thể của quyền chọn luật: Bao gồm cách thức thỏa thuận (minh thị hoặc ngầm định suy đoán hợp lý), thời điểm thỏa thuận (khi giao kết hoặc sau khi giao kết), hình thức thỏa thuận, tính độc lập của điều khoản chọn luật so với hiệu lực của hợp đồng chính, quyền chia cắt hợp đồng để áp dụng nhiều nguồn luật khác nhau cho từng phần nghĩa vụ (dépeçage), và nguyên tắc loại trừ hiện tượng dẫn chiếu ngược/dẫn chiếu đến luật nước thứ ba (renvoi) - tức việc chọn luật được hiểu là chọn luật nội dung chứ không chọn quy phạm xung đột.
  • Giới hạn của quyền chọn luật: Phân tích hai cơ chế kiểm soát: kiểm soát từ đầu (giới hạn phạm vi giao dịch được chọn luật) và kiểm soát hậu quả bất lợi (áp dụng cơ chế bảo lưu trật tự công cộng - ordre public - và các quy phạm mệnh lệnh bắt buộc).
  • Bất cập thực trạng và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam: Phân tích sự mâu thuẫn giữa luật chung (Khoản 2 Điều 664 Bộ luật Dân sự năm 2015) và các luật chuyên ngành (Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005, Khoản 4 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2014, Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hàng hải năm 2015). Luật chuyên ngành thường đặt ra các điều kiện ngặt nghèo (ví dụ: chỉ được chọn luật nước ngoài khi điều ước quốc tế có quy định hoặc luật chuyên ngành cho phép, hoặc luật nước ngoài không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam). Ngoài ra, hệ thống pháp luật còn thiếu vắng các quy định cụ thể về tính độc lập của thỏa thuận chọn luật, luật điều chỉnh hiệu lực của chính thỏa thuận chọn luật, khiến các cơ quan tài phán Việt Nam thường lúng túng và có xu hướng áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

CHƯƠNG 4: Quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh ngoài hợp đồng

Chương 4 nghiên cứu mảng quan hệ ngoài hợp đồng:

  • Quy định chung và xu hướng quốc tế: Phân tích cơ sở thừa nhận quyền chọn luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng, tham chiếu kinh nghiệm từ Quy tắc Rome II của Liên minh Châu Âu; làm rõ các hình thức, thời điểm thỏa thuận (trước hoặc sau khi hành vi gây thiệt hại xảy ra, áp dụng cho các bên đã có quan hệ kinh doanh từ trước), giới hạn bảo lưu trật tự công và luật áp dụng đối với điều khoản thỏa thuận chọn luật.
  • Thực trạng pháp luật Việt Nam: Đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 687) và thực hiện công việc không có ủy quyền (Điều 688). Luận án chỉ ra điểm hạn chế của Khoản 1 Điều 687 khi quy định: nếu bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú (đối với cá nhân) hoặc nơi thành lập (đối với pháp nhân) tại cùng một quốc gia thì pháp luật của quốc gia đó bắt buộc phải áp dụng. Quy định này làm vô hiệu hóa quyền tự do thỏa thuận chọn luật của các bên.
  • Phạm vi nghĩa vụ ngoài hợp đồng: Tác giả chỉ ra Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ đề cập đến bồi thường thiệt hại và thực hiện công việc không có ủy quyền, mà chưa bao quát các dạng nghĩa vụ ngoài hợp đồng thương mại khác như hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm sở hữu trí tuệ, ô nhiễm môi trường, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm hoặc loại bỏ điều khoản trái pháp luật.
  • Kiến nghị giải pháp: Đề xuất sửa đổi Điều 687 theo hướng tôn trọng tối đa thỏa thuận chọn luật của các bên, làm rõ thời điểm thỏa thuận và bổ sung cơ chế xác định luật áp dụng cho các dạng nghĩa vụ ngoài hợp đồng chuyên biệt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã luận giải và xây dựng khái niệm khoa học hoàn chỉnh về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài; khẳng định đây là một quyền năng pháp lý cơ bản của chủ thể kinh doanh bắt nguồn từ nguyên tắc tự do ý chí và tự do hợp đồng.
  2. Luận án lập luận tính tất yếu khách quan của việc pháp điển hóa quyền lựa chọn pháp luật thành một chế định pháp luật độc lập, có cấu trúc hoàn chỉnh trong hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam.
  3. Luận giải sâu sắc về cơ chế giới hạn quyền chọn luật: phân biệt rõ giữa phương thức giới hạn quyền bằng cách ngăn chặn ngay từ đầu (thu hẹp phạm vi giao dịch được phép chọn luật) với phương thức ngăn chặn hậu quả áp dụng (chỉ loại trừ việc áp dụng luật nước ngoài khi hậu quả của nó vi phạm trật tự công cộng). Tác giả đề xuất mở rộng quyền tự định đoạt và ưu tiên cơ chế kiểm soát hậu quả.
  4. Mở rộng cơ sở lý luận về quyền lựa chọn pháp luật đối với các nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng trong thương mại quốc tế, khẳng định sự cần thiết phải công nhận quyền này tương tự như trong quan hệ hợp đồng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp

  1. Luận án đã chỉ ra các điểm mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định chung tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định tại Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Hàng hải năm 2015; vạch rõ sự thiếu hụt các quy tắc chi phối tính độc lập của điều khoản chọn luật, luật điều chỉnh thỏa thuận chọn luật và hiện tượng chia cắt hợp đồng (dépeçage).
  2. Phân tích thực trạng thực thi tại các cơ quan tài phán Việt Nam (Tòa án và Trọng tài), chỉ ra nguyên nhân khiến các cơ quan giải quyết tranh chấp thường né tránh áp dụng luật nước ngoài đã được các bên lựa chọn hợp pháp để quay về áp dụng pháp luật Việt Nam.
  3. Luận chứng cơ sở khoa học cho hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ:
    • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 664, Điều 683, Điều 687, Điều 688) nhằm loại bỏ rào cản cư trú/nơi thành lập đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng, thừa nhận thỏa thuận ngầm định và nguyên tắc chọn luật nội dung (loại trừ dẫn chiếu ngược).
    • Rà soát, sửa đổi các quy định tại luật chuyên ngành (Luật Thương mại, Luật Đầu tư) để bảo đảm tính thống nhất với Bộ luật Dân sự, tạo hành lang pháp lý tương thích với các chuẩn mực quốc tế như Quy tắc Rome I, Quy tắc Rome II và Bộ nguyên tắc La Hay năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

Căn cứ theo tuyên bố phạm vi nghiên cứu của văn bản:

  • Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu ở hoạt động kinh doanh, thương mại nhằm mục đích sinh lợi giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài; không bao quát quyền lựa chọn pháp luật trong các quan hệ dân sự tiêu dùng thông thường.
  • Luận án tập trung giải quyết các vấn đề nguyên tắc chung cho hai mảng lớn là nghĩa vụ theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, chưa đi sâu phân tích sự khác biệt đặc thù trong từng loại hợp đồng kinh doanh chuyên biệt (như hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng tài chính phái sinh) hoặc từng dạng trách nhiệm bồi thường cụ thể (như bồi thường tai nạn hàng hải, hàng không, hay trách nhiệm sản phẩm cụ thể).
  • Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chủ yếu khảo cứu các vụ việc xét xử tại cơ quan tài phán Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp của Bộ luật Dân sự năm 2005 sang Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế công nhận và cho thi hành các phán quyết trọng tài hoặc bản án của tòa án nước ngoài trong trường hợp cơ quan tài phán áp dụng các nguồn luật phi quốc gia (Lex Mercatoria, các bộ nguyên tắc quốc tế).
  • Đi sâu nghiên cứu quyền lựa chọn pháp luật trong các lĩnh vực kinh tế chuyên biệt có tính rủi ro cao như sở hữu trí tuệ số, thương mại điện tử xuyên biên giới, hợp đồng bảo vệ môi trường và giải quyết bồi thường ô nhiễm xuyên quốc gia.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật học: Các chương 1, 2 và 3 cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện, các học thuyết tư pháp quốc tế kinh điển (Party Autonomy, Tronc commun, học thuyết chủ quyền) cùng phương pháp nghiên cứu so sánh luật học phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
  • Thẩm phán và Trọng tài viên: Nội dung phân tích tại chương 3 và chương 4 giúp nhận diện chính xác nội hàm quyền chọn luật, giải quyết xung đột giữa luật chung và luật chuyên ngành, phân biệt luật nội dung và quy phạm xung đột (loại trừ hiện tượng dẫn chiếu), hỗ trợ quá trình giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế tránh việc tự ý áp dụng pháp luật Việt Nam thay thế luật được chọn.
  • Luật sư và chuyên viên pháp lý doanh nghiệp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo các điều khoản lựa chọn pháp luật trong hợp đồng ngoại thương, thỏa thuận chọn luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng, dự liệu các giới hạn về trật tự công và các quy phạm bắt buộc.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện chế định tư pháp quốc tế trong Bộ luật Dân sự và các đạo luật chuyên ngành kinh tế, thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bản chất pháp lý của quyền lựa chọn pháp luật là gì?

Tác giả luận giải rằng quyền lựa chọn pháp luật không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật giải quyết xung đột mà là một quyền năng pháp lý cơ bản của các chủ thể kinh doanh thương mại, bắt nguồn từ nguyên tắc tự do ý chí và tự do hợp đồng trong luật tư. Quyền năng này cần được thừa nhận minh thị và pháp điển hóa thành một chế định pháp luật độc lập trong hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam.

2. Sự mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành về quyền chọn luật tại Việt Nam thể hiện như thế nào?

Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc các bên được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, các luật chuyên ngành như Luật Thương mại năm 2005 (Khoản 2 Điều 5) và Luật Đầu tư năm 2014 (Khoản 4 Điều 4) lại đặt ra những rào cản khắt khe, chỉ cho phép chọn luật nước ngoài khi điều ước quốc tế có quy định hoặc luật chuyên ngành cho phép, hoặc kèm theo điều kiện hậu quả áp dụng không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Điều này tạo ra sự không thống nhất và hạn chế quyền tự định đoạt của doanh nghiệp.

3. Tại sao tác giả cho rằng Khoản 1 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2015 là một điểm bất cập?

Khoản 1 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có cùng nơi cư trú (đối với cá nhân) hoặc cùng nơi thành lập (đối với pháp nhân) tại một quốc gia, thì bắt buộc phải áp dụng pháp luật của quốc gia đó. Quy định này mang tính cưỡng chế cứng nhắc, triệt tiêu quyền tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng của các bên ngay cả khi họ có nguyện vọng chọn một hệ thống pháp luật khác phù hợp hơn với quan hệ thương mại sẵn có của mình.

4. Học thuyết Tronc commun được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì trong đề tài?

Học thuyết Tronc commun (do Rubino Sammartano đưa ra năm 1987) được vận dụng để luận giải phương thức xác định phạm vi nội dung của luật áp dụng. Khi các bên trong tranh chấp thương mại quốc tế không thể thỏa hiệp để chọn luật của một quốc gia cụ thể, cơ quan tài phán có thể tìm kiếm và áp dụng các nguyên tắc, quy định chung giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của hai bên đương sự nhằm giải quyết tranh chấp một cách khách quan, công bằng.

5. Văn bản quốc tế nào được luận án sử dụng chủ yếu để so sánh về quyền chọn luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng?

Luận án sử dụng Quy tắc Rome II của Liên minh Châu Âu (Quy chế số 864/2007 ngày 11/7/2007 về luật áp dụng cho nghĩa vụ ngoài hợp đồng). Tác giả phân tích các quy định tiến bộ của Rome II trong việc luật hóa quyền tự do ý chí cho nghĩa vụ ngoài hợp đồng, cho phép các bên thỏa thuận chọn luật trước hoặc sau khi thiệt hại phát sinh đối với các chủ thể có quan hệ thương mại từ trước.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Vinh là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài dưới góc độ tư pháp quốc tế tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh luật học, tác giả đã chứng minh quyền lựa chọn pháp luật là một quyền năng pháp lý vốn có của chủ thể kinh doanh cần được bảo hộ và pháp điển hóa thành một chế định độc lập. Công trình đã phân tích sâu sắc các bất cập của hệ thống pháp luật thực định Việt Nam, đặc biệt là sự mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật chuyên ngành cũng như những hạn chế trong quy định chọn luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Các đề xuất, kiến nghị sửa đổi luật mà luận án đưa ra mang cơ sở khoa học xác thực, đóng góp tích cực cho tiến trình hoàn thiện thể chế tư pháp quốc tế và hội nhập kinh tế của Việt Nam.