mở đầu quá trình lùi vào danh nghĩa của nó Đền đâu thé kỉ XIX, sách Si hoạn tu tn lục của Nguyễn Công Tiệp cho biết, tổng diện tích ruộng đất công tư của cả nước là 3.584 mẫu, trong đó ruộng tư chiếm 83% (2816221 mẫu), ruộng công các loại chiếm 17% (580. Với sé lượng ruộng công ít di, quyền sở hữu tôi cao của nhà nước VỀ đất dai chỉ còn trên danh ngiõa. Nhà Nguyễn đã cổ ging duy trì ruộng đất công bằng nhiễu biện pháp có phan chuyên chế, cực đoan, tim cách can thiệp “mạnh mé và quyết liệt vào ruộng đất tư điển hình là việc thí điểm triển Khai thu. ‘ging 11 pen vì tp hit l3 ghần, Cức hạng mức côn nhau nữa hần Thống go đã v phíp quên Ean tong alin ghi dow sa vi co bia cũng cảng th chất cia pp quin điện tới Hing Đặc nhang đội Tượng dhe cha vs laban dc nao Vin ở thời Ga Long, nh kì San chà suộng ớt làn.
4 50% số ruộng đất của địa chủ Bình Định để sung công thời Minh Mang tuy nhiên chính sách nay trên thực tế không những không thánh công má côn dem lại những hệ quả tiêu cực 6 Trung Quốc va một số nước phương Đông khác, một quá trình tương tự. như vậy cũng đã diễn ra. Khi quá trình tư hữu hóa phát triển đến mức sở hữu tư nhân chiếm ưu thé trong chế độ ruông đất thi chính quyển trung ương liên lợi dụng quyền sở hữu tôi cao để chiếm riêng cho mình một số ruộng tư rất lớn Chẳng hạn các hoàng dé cuối triéu Minh thé kỉ XVI có tới 300 trang trại lớn với. diện tích hàng van mẫu.
Ngoài quyển lực chính trị, các hoàng để Trung Hoa còn lả những địa chủ lớn nhất theo đúng nghĩa. Trong khi đó, Việt Nam các ông, vua đường như "ít có đâu óc tư hữu" không chịu chấp nhận thực tế khách quan. ‘mang tính quy luất ây. Ruộng đất với từ cách lá tải sản riêng của hoàng để haw như không có vả diện tích do nhà nước trực tiếp quản lí chỉ chiêm một tỉ lệ nhỏ nhoi.
Do đặc điểm nay, khi ruộng dat công bi thu hẹp, quyển lực thực tế của chính quyển trung ương cũng suy yêu theo. Đứng trước thực tế đó, nhà nước chỉ còn cách tăng cường các biện pháp chuyên chế để bảo về ruống đắt công, hạn chế sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất. Sở hữm công làng xã ton tại đai đẳng. Sở hữu công làng x4 được hình thành do tính chất tập thể của quá tình khai pha.
Người ta phải huy đồng đến sức manh của cộng đồng làng để chính phục những vùng đất mới cho nên khi đất trở thành ruộng đất canh tác nó không phải là tai sản riêng của ai. Với tập quán đó, người Việt Nam cũng quan niệm những đất đai khác không dùng vào mục đích canh tác như dat bãi, đổi gò, rừng ru, ao, hồ, đảm hay cả bến sông cũng thuộc quyền quản lí của tập thể. Ruéng công làng xã vin là tư liệu sin xuất thuộc quyển sở hữu của các công xã nông thôn, Khác với các quốc gia phương Tây, khi nha nước ra đồi các công xã nông thôn cũng bị tan rã, sở hữu công của công xã bị triệt tiêu, chi tốn tại duy nhất hình thức sở hữu tư nhân thi ở phương Đồng và Việt Nam, khí nhà nước ra đời công xã nông thén- tiên thân của các làng xã sau này- vẫn còn tôn tại. Với sự ra đời của nha nước đầu tiên- nha nước Văn Lang- Âu Lạc, các công.
xã nông thôn là những đơn vị đa phương cơ sở của nha nước, sử hữu chung về rudng đắt của công xã vấn được duy trì và thửa nhận. 5 Bac thuộc (179TCN.038) và đến thời phong kiến độc lâp tự chủ (038-1884), sở "hữu công làng 2 là một thực thể tổn tại được nha nước chú ý khi lường tính các chính sách về kinh tế, muông đất. Sự tôn tại của ruộng đất làng xã không những giúp nha nước thực hiến được chính sách đoàn kết dân tộc, duy tr, phát huy được truyền thong tự trị, tự quản làng xã ma còn đảm bao được nguồn thu tô, thuế, lao dịch, binh dịch. Do vai trò quan trong của ruộng đất làng 2, các triểu đại phong kiến déu ‘ban hanh chỉnh sách ruộng đắt nhằm quản lý và bảo vệ hình thức sở hữu này.
"Nếu từ thể kỹ X đến thé kỹ XIV Nhà nước cho phép làng xa tự phân chia ruộng đất theo tấp quán thi từ thé kỷ XV, quyển sở hữu làng xã bị can thiệp rat manh bởi nha nước. Trong thực tế, Lê Thánh Tông với chính sách quân điển đã tước đoạt quyền tư đo đạc ruộng đất công va phân chia định kả cho các thành viên công xã theo tục lệ của làng xã, biển kang sa thành người quân lý ruộng đắt công cho nha vua. Những lang xã tương đối tự trị trước đây trở thanh đơn vị kinh tế iu thuốc nha nước vừa cũng cấp lương thực, thực phẩm, bình dich, lao dich vừa cung cấp đất đai để nhà nước ban cho những viên chức của mình, Tuy nhiên, nhà nước vẫn có sự nhân nhượng nhất định đối với tập tục của làng xã, việc phân. chia ruộng đất được thực hiện theo nguyên tắc “Rudng làng nao làng ấy chia” thể hiện sự tôn trong quyên sở hữu ruộng dat của từng lang.
Từ thé kỉ XVI trở di, sở hữu ruộng đất công của làng xã không phải chỉ chiu sức ép từ phía nha nước mà còn bi qua tình tư hữu hóa tấn công liên tục én thé ld XVIII ruộng đất công làng sã bị thu hep làm cho các chính sich kinh tế của nhà nước không phát huy được hiểu quả. Năm 1711, Chúa Trịnh ban lệnh vẻ chia cấp ruộng đất có đoạn nói về tệ nạn nay: “Chia đều ruộng làng, quân. trình phú địch, déu là chính sách lớn để nâng cao đời sống của dân. Nhưng dân.
sinh còn chưa toại là vì nhiều, ít chưa được đều, vì bon hảo dân lam điểu tệ thai. Rung từ đã bi nha hao phú kiếm tinh” [21; tr 118]. Đền đâu thé Mi XIX, tỉ lệ muông công chi còn 17%. Đỏ là mức chung trên cả nước, giữa các vùng miễn ‘va dia phương cũng có sự khác biệt.
Năm 1852, theo lời Thượng thư bộ Hộ Hà Duy Phiên: "Thừa Thiên, Quảng Tn thì ruộng công nhiêu hơn rudng từ, Quảng Bình thi công từ bằng nhau, còn các hạt khác thì ruồng tư nhiễu mà niộng công, it, tỉnh Bình Định cảng ít hơn"[112, tr 367]. Két quả nghiên cứu tư liệu địa bạ 6 cho thay sự phân bỏ không đều thể hiện trong phạm vi từng miễn, từng tỉnh, có 'khi từng huyện, từng tổng. Tại Bac Bộ, trong khi tỷ lệ công điển thé ở Thai Bình còn tới 31 43% thì ở Hà Đông chi còn 22,12% (thời điểm 1805). Thâm chí ở nhiễu noi đã triệt tiêu võ số phân nuông công của người nông dân.
“Tại các làng như xã Mạc Xá, xã Thượng Phúc, thôn Định Công đặc biệt tại các làng buôn như. Đan Loan, Đa Ngưu, Bao Đáp, Phủ Lưu tạo niên những lang hoàn toàn không cỏ uông đất" [63, tr 46] ‘Du số lượng còn ít di song có thé thay ruộng công làng xã có sư tồn tại rất lâu dai, Đây là một đặc điểm chung của nhiễu nước phương Đông nhưng quá trình nay sớm hay muôn tùy vào điểu kiện của từng nước. Nếu như ở Nhật Ban, toàn bộ ruộng đất trở thành sở hữu tư nhân từ thể kỉ XIV, ở Trung Quốc , đến thời Đường sở hữu lang sã cũng bi triệt tiêu dẫn thi ở Việt Nam đến tận thể kỉ “XI vẫn còn sự tổn tại của sở hữu láng sã. Qua trình tư hữu hóa nộng đất trong các làng xã diễn ra chậm chap được cắt ngiĩa bởi hai nguyên nhân chủ yêu.
~ Do nhu cầu cô kết công ding để tr thủy, khai hoang và chẳng ngoại xâm. 1A những yêu tổ khách quan thường xuyên tác động dén mọi mặt của đời sống xã hội, làm cho quá trình phân hủa trong các làng xã bi kim giữ. ~ Do chính sách bảo vé công điển của chính quyền trùng wong. Chế độ ne him ruộng đất không hoàn chinh 6 Việt Nam chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện không sớm nhưng cũng, "không phải là đến thời cận đại vẫn hoàn toan thiếu vắng như nhận xét của một số học giả phương Tây cuối thé kỉ XIX, đâu thé kỉ XX Nhân định đó xuất phát từ việc các học gid đã “6p” khái niệm tư hữu tử phương Tây sang Việt Nam, theo đó chủ sở hữu phải có quyền định đoạt tốt cao đổi với ruông đất của ho.
Thực ra, tiêu chí cơ bản để nhân diện tính chất tư hữu vẻ ruộng đất chỉ là quyển chuyển. nhượng (cho, tăng, bản dit) ruồng đất như một loại tai sản. Có khá nhiều từliệu lich sử cho thấy ngay từ thời Bắc thuộc đã có hiện tượng mua bản ruộng đất én thời Lý- Tran, việc tranh kiện về ruộng đất đã điễn ra kha phd biến. Tuy chưa có thời điểm cụ thể xác lập chế độ tư hữu nhưng có thể khẳng định “từ thé kỉ XIII, sở hữu ruộng đất tư đã rất phát triển”.
Đó là quá trình tự nhiên, phủ hợp với quy luật phát triển kinh té Trải qua qua hình phát triển, đến thé kỉ XIX, ` V nh Giang,Sốhấn ông đt, một số nhận stich i, 3172 7 uông đất tw đã chiếm wu thé hoàn toàn so với nudng đắt công với tỉ 1é là 83% trên ting số ruộng dat cả nước. Mặc dâu vay, do chịu sự chi phối tác động của quyển quyển sở hữu tối cao của nha nước về đất dai, qua trình tư hữu hỏa ruông đất ở nước ta đã diễn ra không bình thường XXét vé quy mô, do tập quán chia déu ruông đất thửa kế cho các con và chính sách giới hạn tích tụ ruộng đất tư của nha nước, sở hữu tư nhân. 'Việt nam thời phong kiến luôn đừng ở mức nhỏ vả vừa Ruộng đất tư chỉ bao ầm đất ở và đất canh tác và không có sự tập trung tai một dia bản mã thường xen kế với ruộng đất thuộc sé hữu công. Dù thừa nhận quyển sở hữu ruộng đất song Nhà nước luôn tim cách can thiệp vào sở hữu tư nhân.
Khi ruộng đất tư phat triển, nha nước điều tiết bang hàng loạt chính sách, trong đó tịch thu sung công thông qua chính sách han điển mà nha Hồ, nhà Nguyễn thực hiện được tính 1ä cực đoan nhất. Các chủ sở hữu do vậy không có toàn quyền đối với ruộng đắt của mình.