Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu phản ứng của thị trường khi NHNN thay đổi tỷ giá hối đoái thông qua LNBT và KL GDBT. Cách thức chọn mẫu nghiên cứu, cách thức xây dựng các biến trong mô hình và các phương pháp cũng như các phần mềm kinh tế lượng sử dụng trong nghiên cứu này sẽ được trình bày một cách chi tiết. ▪ Chương bốn, kết quả nghiên cứu.
Các kết quả nghiên cứu từ đo lường và kiểm tra, cũng như kết quả từ mô hình sẽ được trình bày, đồng thời so sánh kết quả này với các giả thuyết nghiên cứu nhằm tìm ra các nhân tố thỏa mãn kỳ vọng của giả thuyết. ▪ Chương năm, kết luận & khuyến nghị. Chương này và cũng là chương cuối cùng của nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu chính sẽ được tóm tắt lại và những đóng góp quan trọng từ kết quả nghiên cứu hướng đến các đối tượng khác nhau sẽ được liệt kê.
Chương này cũng chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu và khuyến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 6 Chương 2. Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, các lý thuyết giải thích và nghiên cứu về phản ứng của thị trường khi ngân hàng nhà nước thay đổi tỷ giá sẽ được khảo sát, các lý thuyết về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu trước về phản ứng của thị trường khi ngân hàng nhà nước thay đổi tỷ giá cũng như các nghiên cứu trước về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu.
Bố cục trong chương này được trình bày theo ba phần: • Định nghĩa; • Cơ sở lý thuyết; • Tổng quan các nghiên cứu trước về phản ứng của thị trường khi ngân hàng nhà nước thay đổi tỷ giá. • Tổng quan các nghiên cứu trước về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu. Các phần vừa liệt kê như trên sẽ được trình bày cụ thể sau đây: 2.1 Ngân hàng Nhà nước và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước (Theo Nghị định 156/2013/NĐ-CP, ngày 11/11/2013).2 Lợi nhuận bất thường & khối lượng giao dịch bất thường 2.1 Lợi nhuận bất thường Trang 7 Chương 2. Cơ sở lý thuyết Theo Fama & cộng sự (1969), lợi nhuận bất thường (Abnormal Return) là sự vượt trội của lợi nhuận cổ phiếu so với mức thông thường do ảnh hưởng bởi thong tin không được công bố.
Nói cách khác, lợi nhuận bất thường là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng và thường được ước tính dựa trên mô hình sau: Mô hình lợi nhuận bình quân (Model Mean Return – MMR); mô hình lợi nhuận điều chỉnh theo thị trường (Model Market Adjusted), mô hình lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro và thị trường (Model Market and Risk Adjusted), mô hình định giá tài sản (CAPM), và mô hình đa nhân tố (APT).2 Khối lượng giao dịch bất thường Nghiên cứu của Clark (1973) được xem là một trong những nghiên cứu đầu tiên về vai trò của khối lượng giao dịch bất thường. Ông cho rằng lợi nhuận và khối lượng giao dịch có mối quan hệ do những thông tin tiềm ẩn và giá cổ phiếu có những thay đổi lớn bởi những thông tin được đưa ra thị trường. Trong nghiên cứu của mình, ông đã sử dụng biến khối lượng giao dịch như là đại lượng đại diện cho sự biến động do ảnh hưởng bởi thông tin, và từ đó ông đã phát triển giả thuyết hỗn hợp phân phối (Mixture of Distribution Hypothesis – MDH). Dựa trên giả thuyết MDH, nghiên cứu của Copeland (1976) đã giải thích rõ ràng hơn những ảnh hưởng của dòng chảy thông tin được truyền tải ra thị trường và vai trò của khối lượng gaio dịch bất thường.
Copeland cho thấy thông tin được truyền tải lien tục cho nhà đầu tư hơn là truyền tải ra thị trường, từ đó dẫn tới những thay đổi trong giá cổ phiếu, tạo nên các trạng thái giá cân bằng liên tiếp kèm theo đó là khối lượng cổ phiếu liên tục ở mức cao. Trong nghiên cứu của mình, Copeland chỉ ra rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa giá cổ phiếu với độ lớn của khối lượng giao dịch.Nghiên cứu của ông càng hỗ trợ them cho giả thuyết MDH. Nghiên cứu của Blume & cộng sự (1994) và Suominen (2001) đều cho rằng dữ liệu liên quan đến khối lượng giao dịch hàm chứa nhiều thông tin, mà những thông tin này thì không thể hiện qua giá cổ phiếu. Trong nghiên cứu của mình, Blume & cộng sự (1994) chỉ ra rằng những nhà giao dịch theo thông tin đã truyền tải thông tin ra thị trường thông qua hoạt động giao dịch giá cổ phiếu.
Nghiên cứu của Suominen (2001), cho thấy những nhà đầu tư không theo thông tin có thể quan sát sự thay đổi trong khối Trang 8 Chương 2. Cơ sở lý thuyết lượng giao dịch như là một tín hiệu nhận biết và tín hiệu truyền tải trong khối lượng giao dịch có thể góp phần giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều cho thấy khối lượng giao dịch diễn tả hành vi của thị trường và ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư trên thị trường.3 Mối quan hệ giữa lợi nhuận bất thường & khối lượng giao dịch bất thường Trong nghiên cứu của mình năm 1975, Epps cho rằng khi thị trường trong giai đoạn tăng/ giảm giá thường gắn liền với khối lượng cao/ thấp. Nghiên cứu của Karpoff (1986, 1987) cũng xác nhận có mối quan hệ đồng biến giữa lợi nhuận và khối lượng giao dịch.
Trong đó, khối lượng giao dịch là yếu tố bao hàm thông tin quan trọng của cổ phiếu khác khi giá cổ phiếu không bao hàm đầy đủ thông tin quan trọng của cổ phiếu khác khi giá cổ phiếu không bao hàm đầy đủ thông tin cũng như độ chính xác của thông tin. Thực tế, nếu nhà đầu tư theo thông tin tiếp tục giao dịch một phía để mua/ bán khi sở hữu thông tin tốt/ xấu thì khối lượng giao dịch bao hàm nhiều thông tin. Easley & O’hara (1987) nghiên cứu toàn diện vấn đề này bằng cách xem xét độ lớn của khối lượng giao dịch. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư theo tin tức có thể thay đổi khối lượng giao dịch của họ để tạo ra các tác động khác nhau đến giá chứng khoán.
Một điểm chung của nghiên cứu này là giá điều chỉnh ngay lập tức với các thông tin được công bố nhưng không điều chỉnh với các thông tin nội bộ. Do đó, việc điều chỉnh giá là không ngay lập tức với thông tin nội bộ. Ý tưởng chung của các nghiên cứu trên là quan sát khối lượng giao dịch hoặc một vài đặc điểm của giao dịch có thể hàm chứa thông tin. Tuy nhiên, nghiên cứu của Bajo (2010) đã tiến hành them bước nữa là nghiên cứu vai trò của sự thay đổi lớn và đột ngột trong khối lượng giao dịch bất thường và không xem xét đến việc công bố thông tin cho việc dự đoán giá cổ phiếu.
Nghiên cứu của Bajo cũng cho thấy được mối quan hệ đồng biến giữa lợi nhuận bất thường và khối lượng giao dịch bất thường xung quanh ngày xẩy ra giao dịch bất thường. Trang 9 Chương 2.3 Thị trường và phản ứng thị trường Thị trường được hiểu là nơi mà người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hoá. Theo định nghĩa này, thị trường được thu hẹp ở “cái chợ”. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ tập thể người mua, người bán giao dịch với nhau về một sản phẩm hay một lớp sản phẩm.
Theo Carthy (1980) thị trường được hiểu là nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra các sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó. Thông qua khái niệm thị trường ta có thể hiểu được rằng khi có bất kỳ thông tin nào được đưa vào thị trường thì nó sẽ tác động đến thị trường. Tác động của thông tin đó có thể xấu, hoặc tốt hoặc không ảnh hưởng gì tới thị trường. Vì vậy, các đối tượng có liên quan cần phải tỉnh táo trước khi đưa ra các quyết định của mình.
Trong nghiên cứu này, phản ứng thị trường được thể hiện thông qua giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch của cổ phiếu khi có thông tin ngân hàng nhà nước thay đổi tỷ giá hối đoái. ▪ Phản ứng của thị trường qua giá cổ phiếu thể hiện ở lợi nhuận bất thường (AAR) của cổ phiếu. ▪ Phản ứng của thị trường qua khối lượng giao dịch cổ phiếu thế hiện ở khối lượng giao dịch bất thường (AV) của cổ phiếu. Thêm vào đó, nghiên cứu thị trường là hoạt động trong mối quan hệ với thị trường nhằm tìm hiểu; xác định các thông tin về thị trường, từ đó có thể nắm bắt được những cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường.
Nghiên cứu thị trường có nhiều chức năng liên kết giữa người tiêu dùng, khách hàng và công chúng với các nhà hoạt động thị trường thông qua những thông tin, những thông tin này có thể sử dụng để nhận dạng và xác định các vấn đề cũng như cơ hội Marketing; là cơ sở cho sự cải tiến và đánh giá các hoạt động Marketing. Như vậy, phản ứng thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào và sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng hay nền kinh tế nói chung một phần có sự đóng góp từ hoạt động nghiên cứu thị trường 1. 1 Tham khảo thêm bài: Nghiên cứu thị trường là gì? Tại sao lại cần thiết cho doanh nghiệp. Trang 10 Chương 2.4 Tỷ giá hối đoái & thị trường chứng khoán 2.1 Tỷ giá hối đoái và chênh lệch tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác.
Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác.