phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ vay và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Tình hình trả nợ vay của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội. Chƣơng 4: Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội.
Chƣơng 5: Giải pháp nâng cao khả năng trả nợ vay của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội. h 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng, doanh nghiệp và khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp 1. Tổng quan về tín dụng 1.
Khái niệm về tín dụng Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ gốc Latinh Creditium có nghĩa là một sự tin tƣởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Nguyễn Minh Nhàn (2012) đã diễn giải quan điểm tín dụng theo Kmax nhƣ sau: “Tín dụng là quá trình chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu đến ngƣời sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu”. (Nguyễn Minh Nhàn 2012, tr. 16) Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế: “Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những ngƣời đi vay và những ngƣời cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống”.
(Sử Đình Thanh 2008, tr. 67) Nguyễn Văn Tiến (2014) cho rằng: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. (Nguyễn Văn Tiến 2014, tr.
21) Nguyễn Thị Thu Hà (2017), tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lƣợng giá trị sang cho bên kia đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận đƣợc phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận. Hay nói cách khác, tín dụng là quan hệ vay mƣợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự h 9 chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị với hình thức hiện vật hay tiền tệ từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lƣợng lớn hơn. (Nguyễn Thị Thu Hà 2017, tr.
19) Theo từ điểm Bách khoa toàn thƣ Việt Nam thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Trong quan hệ này ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định. Đến kỳ hạn trả nợ ngƣời đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hóa đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi”. (Hứa Văn Nghị 2020, tr.
10) Theo văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 về về hợp nhất luật các tổ chức tín dụng do văn phòng quốc hội ban hành, định nghĩa “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. (Trịnh Thị Mỹ An 2019, tr. 5) Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các pháp nhân và cá nhân, đƣợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Các hình thức tín dụng Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng và đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tƣơng đối.
Trên cơ sở các căn cứ phân loại khác nhau sẽ có các hình thức tín dụng khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến trong giáo trình “Nguyên lý và nghiệp vụ ngân hàng thƣơng mại”, nhà xuất bản Thống kê (2014), các hình thức tín dụng bao gồm: Theo thời gian cấp tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: thời gian cấp tín dụng không vƣợt quá 12 tháng; h 10 - Tín dụng trung hạn: thời gian cấp tín dụng trên 12 tháng đến tối đa 60 tháng. - Tín dụng dài hạn: thời gian cấp tín dụng trên 60 tháng. Theo loại hình cấp tín dụng: - Cấp tín dụng theo hình thức hạn mức tín dụng: Là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà khách hàng chỉ việc làm một bộ hồ sơ để vay trong một kỳ nhất định với mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận.
Khách hàng chỉ lập hồ sơ một lần cho nhiều khoản cấp tín dụng, ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức, chỉ giới hạn dƣ nợ, không giới hạn doanh số. - Cấp tín dụng theo món: Là hình thức cấp vốn tín dụng của ngân hàng mà theo đó làm một bộ hồ sơ vay một lần nhất định với mức tín dụng ngân hàng và khách hàng thỏa thuận. Ngƣời vay sẽ làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả tiền và số tiền vay xác định. Theo đối tượng khách hàng: - Cấp tín dụng cho doanh nghiệp: là cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp để sử dụng vào mục đích kinh doanh, đầu tƣ dự án, mua sắm tài sản cố định… - Cấp tín dụng cho cá nhân: là cấp tín dụng cho đối tƣợng cá nhân phục vụ hai mục đích chủ yếu là phục vụ đời sống, tiêu dùng và bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, sản xuất.
Nhƣ vậy, cấp tín dụng rất đa dạng về các hình thức, phƣơng thức. Theo văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 về hợp nhất luật các tổ chức tín dụng do văn phòng quốc hội ban hành, định nghĩa “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. (Trịnh Thị Mỹ An 2019, tr. 6) h 11 Từ việc phân loại trên, để giới hạn nghiên cứu, tín dụng trong luận văn này tác giả tập trung vào hình thức cho vay đối với đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp: có thời gian vay ngắn hạn, trung dài hạn, mục đích sử dụng vốn vay là bổ sung vốn lƣu động, đầu tƣ tài sản cố định, đầu tƣ vào các dự án… 1.
Khái niệm về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp Trên thực tế đã có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể đƣợc xem là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay nhƣng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ đối với tổ chức tín dụng khi đến hạn phải thanh toán, dẫn đến việc làm giảm khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh của tổ chức tín dụng, thậm chí gây thất thoát vốn và có thể làm cho tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản. Bất cứ hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng. Theo Fitch (1997) và Greuning và Bratanovic (2009): Rủi ro tín dụng xảy ra khi bên vay không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng đã thỏa thuận, không thể thanh toán các khoản gốc lãi theo thời gian quy định trong hợp đồng.
Rủi ro tín dụng có thể kéo theo nhiều rủi ro khác trong hoạt động của ngân hàng, ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. 62) Theo Sauders và H. Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khả năng lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện cả về số lƣợng và thời hạn”. 41) Theo khoản 1, điều 2 QĐ 493/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN đề cập khái niệm: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Rủi ro tín dụng sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, có nhiều khoản nợ không thu hồi đƣợc, sẽ làm phát sinh nhiều chi phí nhƣ: chi phí giám sát, khởi h 12 kiện, bán đấu giá tài sản, quản lý, thu hồi nợ….và đặc biệt là chi phí trích dự phòng rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng còn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động. Mặc dù khi quá hạn, lãi suất cho vay sẽ tăng, nhƣng phần lãi này thực sự rất khó thu hồi, khi khách hàng đã mất khả năng toán các khoản nợ trƣớc đó. Vì vậy, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm đáng kể.
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng có thể ảnh hƣởng đến sự mất cân đối dòng tiền ra nhƣ trả lãi, gốc tiền gửi, cho vay, đầu tƣ… và dòng tiền vào nhƣ nhận gửi, thu nợ gốc lãi trong tƣơng lai. Tình trạng này diễn ra nhiều lần có thể làm ảnh hƣởng uy tín của ngân hàng. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản. Rủi ro tín dụng trong hoạt cấp tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do khách hàng doanh nghiệp không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Do đó, để hạn chế rủi ro tín dụng, thì việc đánh giá đƣợc khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp là vô cùng quan trọng đối với ngân hàng.