Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp 1. Khái niệm nợ thuế Thuế là khoản thu mang tính chất bắt buộc và tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của NNT và trở thành khoản nộp bắt buộc mà NNT có nghĩa vụ phải chuyển giao cho Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế vì lý do nào đó mà NNT chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, sẽ hình thành nên khoản nợ thuế.
Có thể hiểu nợ thuế ở khía cạnh đầy đủ hơn là tiền nợ thuế như sau: Tiền nợ thuế là khoản tiền được xác định là phải nộp vào NSNN đúng thời hạn quy định của pháp luật nhưng hiện nay vẫn chưa được thực hiện và còn tồn đọng ở đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nộp khoản thuế này cho cơ quan thuế. Theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế có định nghĩa tiền thuế nợ như sau: Nợ thuế là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN. Tuân thủ thuế Tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong Luật thuế. Theo chuẩn mực Châu Âu, thực thi nghĩa vụ thuế cơ bản gồm 4 nội dung: đăng ký thuế, khai báo thuế, điều chỉnh khai báo thuế và nộp thuế.
Ngoài ra, tuân thủ thuế còn tính đến việc giữ gìn sổ sách chứng từ, hạch toán theo chuẩn mực kế toán và chấp hành các quyết định của cơ quan thuế. Tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu. Quan điểm truyền thống cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyên tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của cơ quan thuế (CQT) hoặc khi bị tác động chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến vệc -4- tăng cường tuân thủ thuế. Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia tranh luận về phương diện tuân thủ tự nguyện hay không tự nguyện.
Một trong những mực tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và trành thuế. Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế. Jame và Alley (1999) đã đặt ra câu hỏi, “sự tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì đều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ 100% so với mức thu thuế phải nộp theo luật định. Vì vậy quan điểm hiện đại cho rằng cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác.
Theo trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế gọi tắt là tổ chức OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình với Nhà nước. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế, và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai) và tuân thủ về thu nộp”. Ngoài ra, cũng theo tổ chức này tuân thủ thuế được phân ra thành 2 nhóm là: tuân thủ hành chính và tuân thủ kỹ thuật.
Trong đó tuân thủ hành chính là việc thực thi những quy định mang tính hành chính trong thủ tục đăng ký, khai báo. Còn tuân thủ kỹ thuật chính là việc tính toán nghĩa vụ thuế phải nộp là bao nhiêu và đem số thuế đó nộp vào NSNN. Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) chỉ ra rằng: “Sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. -5- Nguyễn Thị Thanh Hoài và các cộng sự (2011) cho rằng: Tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế.
Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Hành vi không tuân thủ thuế Rất khó để phân biệt rạch ròi giữa hành vi “tránh thuế” tức là tận dụng những khe hở của pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp tiền thuế và hành vi “trốn thuế” tức sự vi phạm pháp luật. Boidman (1983) định nghĩa 3 hình thức không tuân thủ thuế khác nhau: (1) không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế, và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng các khoản miễn giảm, hay khấu trừ. Xét theo cơ sở pháp lý: theo James và Alley, (1999), việc tuân thủ thuế có thể được nhìn từ góc độ của việc tránh thuế và trốn thuế.
Cả hai hành vi này đều có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, theo đó tránh thuế nói đến những phương sách hợp lệ để làm giảm nghĩa vụ thuế còn trốn thuế lại nói đến những cách làm phạm pháp. Trong khi một số người bình luận nhìn nhận việc không tuân thủ chỉ có vấn đề trốn thu, đều này dường như chưa nắm bắt được toàn bộ bản chất của vấn đề. Việc trốn thuế rõ ràng là một hình thức không tuân thủ. Tuy nhiên, nếu người nộp thuế cố tình kéo dài thời gian để giảm nghĩa vụ thuế của họ, thì đều này lại khó có thể được cho là “tuân thủ”.
Xét theo quan điểm đạo đức, sự phân biệt giữa hai khái niệm này đối với nhiều người là không có sự khác nhau. (2004) “Không có sự khác nhau giữa một nhà kinh doanh nhỏ hoạt động trong nền kinh tế ngầm (vi phạm luật) với một nhà đầu tư lớn sử dụng những luật sư giỏi để tìm kiếm thiên đường thuế”. Nghiên cứu theo giác độ tâm lý hành vi của doanh nghiệp [ví dụ Kirchker và cộng sự (2001)], do sự khác biệt nhau về cơ sở pháp lý, vì vậy đối với DN thì trốn thuế và tránh thuế là hoàn toàn khác nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ thuế của họ, trốn thuế thường được đánh giá tiêu cực hơn tránh thuế. Kiến thức về thuế của người nộp thuế càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng -6- hơn, được lựa chọn nhiều hơn.
Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì người nộp thuế có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn. Khó mà phân định rạch ròi giữa hành vi tránh thuế hay việc dùng luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi trốn thuế - tức sự vi phạm pháp luật. Thêm vào đó, người ta thường khó mà quyết định được liệu các biện pháp chế tài nên được áp dụng ở đâu dọc theo chuỗi liên tục của những hành vi tránh thuế và trốn thuế. Các cơ quan thuế khi nghĩ về tuân thủ thường chú ý đến việc tại sao một số người nộp thuế không tuân thủ mà không nghĩ ngược lại là tại sao người nộp thuế lại tuân thủ.
Theo chuẩn mực thì người nộp thuế thường tuân thủ hơn là không tuân thủ và một hệ thống thuế hoạt động hiệu quả phải có được sự đồng thuận hợp tác của hầu hết người nộp thuế. Cho nên, sẽ có được hiệu quả cao hơn trong việc thu thuế dành sự hỗ trợ nhiều hơn cho những người nộp thuế tuân thủ hoàn thành nghĩa vụ thuế của họ so với việc dành nhiều thời gian và công sức theo đuổi thiểu số người không tuân thủ. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thế của cơ quan thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường sự tuân thủ thuế của các DN. Tổng quát không tuân thủ thuế được biểu hiện dưới các hình thức sau: - Chậm nộp hoặc không nộp tờ khai thuế; - Kê khai không chính xác số thuế phải nộp; - Kê khai khống các khoản được miễn giảm; - Không nộp thuế hoặc nộp chậm số thuế phải nộp vào NSNN.
Trongiquá trìnhithực thiivà chấp hành cáciquy định trong Luật thuế, để đánh giáiđược thực trạng NNT có tuân thủ hay không, tuân thủ tới mức nào thì cần tính xem số thuế thu được có đầy đủ, chính xác, kịp thời vào NSNN không? Việc đo lường sốithuế này khá quan trọng và cũng là vấn đề khó khăn. Tuy nhiên về mặt lý thuyết số tiền thuế này có thể đo được theo nhiều cách khác nhau: - Số thuếicó khảinăngithuiđược sẽ đượciướcitínhinhưilà kếtiquảicủaiviệcidự báoisố thu thuế trên cơisởisử dụnginhữngisố -7- liệuiviimô. Các môihìnhidựibáo đượciáp dụng theo từng sắcithuế khác nhau. - Sốithuếicó khảinăngithu đượcisẽ được CQT quảnilý xemixét, phân tích.
Chỉ sốinàyiđượcisuy ra từimức độituânithủ về đăngikýithuế, kê khailthuế, tính toán và nộp thuế. - Số thuế có thể thu được dựa trên tính toán của NNT. Thực tế thì NNT ít muốn tiết lộ con số ước tính thuế của họ với CQT, vì vậy mà qua những cuộc thanh, kiểm tra thuế luôn xảy ra tình trạng truy thu thuế. - Tuân thủ trongiđăngikýithuế: được thểihiện qua việciNNT thựcihiện đăng ký thuếiđúngimẫuibiểu, chínhixácicácichỉitiêu, nộpihồ sơiđăng ký thuế cho CQT đúng thời hạn, đúng nơi quảnilýithuế.
Đểiđánhigiá mức độ tuânithủ ở khâu đăng ký thuế trong thực tế có thể xét đến tỷilệ sốilượng NNT viiphạm vềithờiigianiđăngiký thuế so với số lượngiNNTiđang quản lý trên địa bàn. Tỷ lệ càng thấp chứng tỏ việc tuân thủ trong đăng ký thuế càng cao và ngược lại. Ngoài ra, còn có thể xét đến tỷ lệ số lượng NNT đăngikýithuếisaiisót, nhầmilẫn so với sốilượng NNTiđãithựcihiện đăngiký thuếitrên địa bàn quản lý. Tỷ lệ càng thấp có nghĩa là mức độituânithủitốt vàingượcilại.