mở đầu cho Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA). Tính tới năm 2020, 15 quốc gia tham gia hiệp định RCEP đã sở hữu tổng lượng dân số lên tới 2,2 tỉ người, chiếm tới gần 30% dân số toàn cầu; đồng thời chiếm 30% trong tổng sản phẩm quốc nội GDP thế giới (đạt 26,2 nghìn tỉ USD), đây cũng chính là khối thương mại lớn nhất trong lịch sử (MUTRAP, 2018). 12 Sáng kiến về RCEP được công bố lần đầu vào tháng 11/2011 trong cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo ASEAN tại Bali khi các nhà lãnh đạo nỗ lực dung hòa cả hai nền kiến trúc thương mại khu vực hiện có. Trung Quốc ủng hộ Hiệp định Thương mại Tự do Đông Á, theo hướng hạn chế chỉ bao gồm các quốc gia thuộc ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Còn đối với nước Nhật Bản, quốc gia này lại ủng hộ Quan hệ Đối tác Kinh tế toàn diện ở Đông Á, với thêm 3 nước Ấn Độ, Australia và New Zealand. Các nhà lãnh đạo ASEAN áp dụng một quy định gia nhập mở đối với các quốc gia ký kết hiệp định RCEP, khuyến khích các thành viên khác tham gia với điều kiện họ phải chấp hành đúng đủ các quy tắc và hướng dẫn của khối. Ngày 30/8/2012, trong Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN tại Campuchia, các nhà lãnh đạo đã thông qua các nguyên tắc hướng dẫn của RCEP. RCEP sẽ củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực đang nổi lên và tìm cách hài hòa hiệu ứng “tô mì” bị tạo nên bởi những sự khác biệt giữa các FTA của ASEAN.
Hiệp định sẽ tìm cách đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế khu vực, với kỳ vọng dần xóa bỏ tới 90% thuế quan nhập khẩu giữa các quốc gia trong nội khối RCEP trong 20 năm tiếp theo đồng thời đảm bảo tính nhất quán với những quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trên thực tế, RCEP là một hiệp định có quy mô lớn, với sự tham gia lần đầu tiên của các quốc gia gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Ba quốc gia này được xem là ba nền kinh tế phát triển bậc nhất của Châu Á. Khi hiệp định RCEP được đồng thuận ký kết, nó được đánh giá là bệ đỡ nhằm tái điều tiết nền kinh tế sau bối cảnh dịch bệnh COVID-19, đồng thời là đòn bẩy giúp “kéo trọng lực kinh tế trung tâm về phía châu Á” trong bối cảnh nền kinh tế Hoa Kỳ đang ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng.
Điểm khác biệt lớn về tốc độ phát triển kinh tế của các nước thành viên trong khối RCEP gây một số trở ngại nhất định trong việc thực thi những quy định về tự do hóa thương mại. Nguyên tắc định hướng của RCEP thừa nhận thực tiễn khác nhau giữa các quốc gia thuộc mức đang phát triển như Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar với các quốc gia phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản… và 13 đưa ra linh hoạt đối xử đặc biệt và khác biệt. RCEP cũng có vai trò thúc đẩy hợp tác kinh tế và công nghệ nhằm thu hẹp sự khác biệt về tốc độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia thành viên. Những nội dung chính của hiệp định Hiệp định RCEP là một hiệp định không chỉ được xây dựng cho hiện tại mà còn là một hiệp định cho tương lai.
Hiệp định tổng hợp phạm vi của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) ASEAN+1 hiện có (các FTA của ASEAN với năm đối tác) và cân nhắc về những thực tiễn thương mại mới nổi hoặc đang thay đổi, bao gồm thời đại của thương mại điện tử, tiềm năng của những tổ chức/ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, sự phát triển sâu rộng của chuỗi giá trị khu vực và sự phức tạp của cạnh tranh thị trường. Hiệp định RCEP được xây dựng và bổ sung thêm dựa trên Hiệp định của WTO, trong những lĩnh vực mà các Bên đã đồng ý cập nhật hoặc vượt ra ngoài các nguyên tắc thương mại đã được công nhận trước đó. Hiệp định RCEP là toàn diện trên cả khía cạnh về phạm vi thực thi và cả khía cạnh về chiều sâu nội dung trong những điều khoản cam kết. Trong đó bao gồm đầy đủ những điều khoản quy định về thương mại hàng hóa như quy định về nguồn gốc, các thủ tục về thông quan, hải quan giúp thương mại trở nên thuận lợi hơn, bên cạnh đó là những nội dung về an toàn thực phẩm, các kiểm dịch về động thực vật được đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn về kỹ thuật hay quy trình nghiêm ngặt; đồng thời cũng có điều khoản liên quan đến phòng vệ thương mại.
Hiệp định RCEP được chia làm 20 Chương và các Phụ lục với những nội dung cơ bản về Thương mại hàng hóa, Thương mại dịch vụ, đầu tư, lộ trình cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ…. Tóm lại, việc ký kết thành công hiệp định RCEP có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với các thành viên tham gia. Với những điều kiện, điều khoản được quy định chi tiết, cụ thể sẽ tạo ra một “sân chơi” khổng lồ cho 15 quốc gia trong khối. Đặc biệt, đứng trước tình hình nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với khủng hoảng từ chiến tranh, dịch bệnh, RCEP sẽ giúp cho các quốc gia tái mở cửa thị trường, đảm 14 bảo chuỗi cung ứng không bị gián đoạn, thúc đẩy sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của các quốc gia thành viên nói chung cũng như của Việt Nam nói riêng.
So sánh hiệp định RCEP với những hiệp định thương mại tự do khác Sự khác nhau rõ nét nhất giữa Hiệp định RCEP với những FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia gần đây như CPTPP hay EVFTA là RCEP hướng đến vai trò trung tâm của ASEAN. Cụ thể là tạo ra một khuôn khổ nhằm thuận lợi hóa thương mại và tạo lập sự liên kết chung sản xuất trong toàn ASEAN. Một số báo cáo đánh giá về ảnh hưởng của hiệp định RCEP cho rằng hiệp định sẽ mang tới nhiều tác động khả quan tới nền kinh tế khu vực. Dự báo vào năm 2030, thu nhập của toàn khu vực sẽ tăng khoảng 0.6%, tương đương tăng 245 tỷ USD mỗi năm và tạo ra xấp xỉ 2.8 triệu công ăn việc làm cho người dân.
Khi ký kết hiệp định RCEP, Việt Nam cũng được hưởng lợi ích trên nhiều phương diện. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) được thực hiện năm 2022, GDP của Việt Nam đã được dự đoán sẽ tăng trưởng khoảng 4.9% và xuất khẩu tăng ở mức 11. Ngoài ra, mục tiêu mà khối các nước ASEAN hướng tới là tạo ra không gian sản xuất chung kết nối với những nền kinh tế hàng đầu trong phạm vi khu vực. Do đó, hiệp định RCEP được cho là cầu nối quan trọng giúp cho các doanh nghiệp thâm nhập vào chuỗi cung ứng trên phạm vi toàn thế giới.
Rõ ràng, để có không gian sản xuất chung thì cần phải có một thị trường đủ lớn và hiệp định RCEP với quy mô lớn nhất trong các hiệp định FTA đảm bảo cho điều kiện cần thiết này. Quy mô phạm vi Hiệp định RCEP hay còn được gọi là “Siêu hiệp định” sẽ tạo cơ hội rộng mở cho các quốc gia thành viên tham gia với quy mô thị trường khổng lồ với 15 quốc gia, có khoảng 2,2 tỉ người tiêu dùng, chiếm 30% dân số toàn cầu, GDP khoảng 26.200 tỷ USD, chiếm khoảng 30% GDP thế giới (MUTRAP, 2018), tạo nên một khu vực thương mại tự do đứng đầu thế giới xét theo dân số. Hiệp định RCEP dự kiến sẽ đóng góp cho việc xây dựng cấu trúc thương mại mới, tạo ra một thị trường xuất khẩu ổn định cho các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc ký 15 kết hiệp định RCEP được cho là một thành tựu có ý nghĩa đặc biệt to lớn trong bối cảnh các quốc gia đang “gồng mình” phục hồi nền kinh tế sau dịch bệnh Covid-19.
Quy tắc xuất xứ So với những hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, Hiệp định RCEP đưa ra những cam kết về quy tắc xuất xứ được cho là thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp để thâm nhập một cách chặt chẽ hơn vào chuỗi cung ứng của khối các quốc gia thành viên. Nguồn nguyên liệu xuất xứ từ các nước RCEP cũng sẽ được xem như là nguồn nguyên liệu sản xuất tại Việt Nam. Từ đó, những hàng hóa xuất khẩu đi bất kỳ quốc gia nào trong khối RCEP cũng đều được hưởng ưu đãi thuế quan nếu áp dụng quy tắc xuất xứ này (Ngọc Hồi, 2021). Tương tự như các FTA khác, quy tắc xuất xứ được quy định tại hiệp định RCEP cũng sử dụng một số tiêu chí và cách thức nhằm nhận định nguồn gốc hàng hóa như tiêu chí hàng hóa thuần túy, tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa, tiêu chí tỷ lệ phần trăm giá trị, tiêu chí gia công, chế biến hàng hóa nhưng ở mức độ phức tạp và ngặt nghèo hơn so với quy tắc xuất xứ tại những FTA truyền thống.
Ví dụ đối với ngành hàng thủy sản, các hiệp định thương mại tự do như VJFTA, AJCEP đều bắt buộc xuất xứ thuần túy tại Việt Nam, còn đối với RCEP lại chấp nhận việc nhập khẩu các con giống từ bất kỳ nơi nào hoặc nuôi trồng trong nước và xuất khẩu thì vẫn được hưởng ưu đãi về nguồn gốc xuất xứ. Điều này giúp cho hàng hóa Việt Nam được dễ dàng hơn khi thâm nhập vào những thị trường hàng đầu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… Cam kết xóa bỏ thuế quan Hiệp định RCEP không đưa ra các cam kết thuế quan ở lĩnh vực xuất khẩu mà chỉ đưa ra các cam kết đối với thuế nhập khẩu. Các quốc gia thành viên cam kết tỷ lệ tự do hóa cho ASEAN và các nước ASEAN cam kết lẫn nhau vào khoảng 90- 92%, trong khi tỷ lệ này ở một số nước đối tác dành cho nhau hoặc một số quốc gia ASEAN dành cho đối tác ở mức thấp hơn, giao động từ 83-89% (MUTRAP, 2020). Sự khác biệt này chứng tỏ trình độ phát triển kinh tế khác nhau giữa các nước thành viên RCEP.
Theo quy định cắt giảm thuế quan, tỷ lệ tự do hóa thương mại đạt mức 16 cao tại các thời điểm 10 đến 25 năm sau khi Hiệp định chính thức có hiệu lực, tùy vào cam kết của các bên. Theo lộ trình, các nước đối tác sẽ xóa bỏ hàng rào thuế quan cho hàng hóa từ 64-82% số dòng thuế kể từ ngày 01/01/2022. Tỷ lệ cắt giảm thuế quan của Việt Nam dành cho các quốc gia ASEAN là 90.3%; Nhật Bản và Hàn Quốc là 86.7%, Trung Quốc là 85.