Chương I: ĐẶT VAN DE Tính chất dễ bị ăn mòn của cốt thép truyền thống do tác động của môi trường xung quanh làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cũng như tuôi thọ kết cấu. Để giải quyết vấn đề này, rất nhiều giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất như tăng cường độ của bê tông, tăng bề dày lớp bê tông bảo vệ, cốt thép được phủ lớp vật liệu chống ăn mòn, hay là dùng chất phụ gia đặc biệt để chống sự xâm thực của môi trường vào cốt thép. Gần đây, việc sử dụng vật liệu “polymer gia cường sợi” (FRP) với những đặc tính nổi bật như có khối lượng riêng nhẹ, cường độ chịu kéo cao, không bị ăn mòn, không nhiễm từ, và khả năng tự nội soi nhờ vào các cảm biến sợi quang học được lồng ghép vào bên trong như một dạng cốt chịu lực thông minh, đang nổi lên như một giải pháp chống ăn mòn hiệu quả bên cạnh các kỹ thuật truyền thống. Một số các nghiên cứu (Benmokrane và Rahman 1998; Burgoyne 2001; Cosenza và cộng sự.
2001; Dolan va cộng sự. 1999; El-Badry 1996; Figueiras va cộng sự. 2001; Humar và Razaqpur 2000; Iyer và Sen 1991; Nanni 1993a) cho thấy bên cạnh các ưu điểm như đã trình bày ở trên, cốt FRP có một số hạn chế như mô-đun đàn hồi thấp, cường độ bám dính thấp, không có miền biến dạng dẻo. Chính những điều này làm cho ứng xử của kết cấu sử dụng cốt FRP có nhiều khác biệt so với cấu kiện BTCT truyền thống.
Chẳng hạn, cấu kiện bê tông cốt phi kim không có khả năng phân bố lại nội lực trong nó sau khi bị nứt, từ đó làm cho biến dạng, độ võng và bề rộng vết nứt trong cấu kiện bê tông cốt FRP lớn hơn so với dầm BTCT. Để phục vụ cho công tác thiết kế, một số các quốc gia đã ban hành các hướng dẫn nhu Hoa Ky (ACI 440. Liên quan đến tính toán nứt, các công thức tính toán trong các hướng dẫn thiết kế trên, nhìn chung, đều dựa vào công thức tính toán của kết cấu BTCT truyền thống có kế thêm hiệu chỉnh cho hệ số bám dính #, do sự khác biệt về liên kết bám dính giữa bê tông và cốt FRP so với bê tông và cốt thép. Hiện nay, vẫn chưa có mô hình xác định một cách chính xác giá trị của hệ số này và nhằm phục vụ cho việc tính toán ACI 440.1R (2006) có đưa ra một biên độ giá trị cho hệ số này dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm đã có.
Tuy vậy, một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng các hệ số bám dính mà ACI 440. Trước tình hình sé lượng các nghiên cứu thực nghiệm về ứng xử nứt của cấu kiện bê tông cốt FRP còn nhiều hạn chế như hiện nay, các nghiên cứu mới trong lĩnh vực này thật sự rất cần thiết, tạo cơ sở đưa ra các giá trị cho hệ số bám dính được chính xác và hợp lý hơn. Đề tài tiến hành khảo sát và phân tích ứng xử nứt do uốn của dầm bê tông cốt GFRP có bề mặt phun cát. Trong đó, ảnh hưởng của hàm lượng cốt GFRP và tính bám dính của cốt GFRP đến bề rộng vết nứt của dầm được thực nghiệm chỉ tiết trên 12 dầm bê tông cốt GFRP và cốt thép kích cỡ lớn.
Các thí nghiệm kéo trượt (bond-slip test) nhằm xác định hệ số bám dính cho cốt GFRP có bề mặt phun cát cũng được thực hiện. Ngoài ra, dé tai còn tiến hành kiểm chứng các công thức tính toán bề rộng vết nứt của đầm bê tông cốt FRP trong các tiêu chuân, hướng dẫn thiết kế hiện có và các nghiên cứu trước đây dựa trên các kết quả thực nghiệm từ chính nghiên cứu này và một số nghiên cứu đã có. Căn cứ vào kết quả kiểm chứng và dữ liệu thực nghiệm có được, đề tài đề xuất một hệ số bám đính cho cốt GFRP có bề mặt phun cát nhằm phục vụ cho công tác dự đoán bề rộng vết nứt dầm bê tông cốt GFRP được chính xác và hợp lý hơn. Chương 2: TỎNG QUAN 2.
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIÊN VÀ ĐẶC TÍNH CƠ LÝ CỦA COT CHỊU LỰC FRP 2.1 Lich sử phát triển Năm 1950, sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ II, ngành công nghiệp vũ trụ của Mỹ phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi cần có nhiều vật liệu có cường độ cao và trọng lượng nhẹ đề đáp ứng nhu cầu chế tạo. Ngoài ra, việc phát triển nhanh chóng các hệ thống đường cao tốc cũng đòi hỏi cần có vật liệu thay thế hiệu quả cho cốt thép, vốn phải tốn nhiều công sức và chỉ phí cho việc bảo trì đo tuyết đóng trên đường cao tốc vào mùa đông. Nguyên nhân chính là do vào mùa đông tuyết đóng dày đặc trên đường cao tốc làm giảm độ ma sát trên mặt đường, để khắc phục tình trạng này muối đã được dùng và phun lên mặt đường để làm tan băng đóng trên đường, chính lượng muối này đã làm cho cốt thép rất đễ bị ăn mòn. Rất nhiều giải pháp được đưa ra như: sơn mạ kẽm; phun tĩnh điện nhiệt hạch; tráng lớp epoxy cho cốt thép; tăng chiều dày lớp bê tông bảo vệ; và sử dụng cốt phi kim (FRP) nhằm chống lại sự ăn mòn cốt thép.
Trong thời gian đó vì yếu tố giá thành và nguồn cung, cốt FRP mặc dù được đánh giá là một giải pháp tốt và triệt để nhưng đã không được chú ý nhiều. Mặc dù có những đặc điểm kỹ thuật không thể phủ nhận được trong việc chống ăn mòn và có tỉ số cường độ trên trọng lượng cao, mãi đến năm 1983, cốt FRP lần đầu được đưa vào thực tiễn thông qua dự án “Chuyển giao công nghệ tổng hợp cho thiết kế và thi công cầu” (Tranfer of Composite to Design and Construction of Bridge) được Bộ Giao thông Vận tải Hoa Kỳ (USDOT) bảo trợ. Thành công của dự án này đã mở đường cho việc ứng dụng cốt FRP một cách rộng rãi trong các công trình cầu đường ở các nước Bắc Mỹ. Ở Châu Âu, cốt FRP lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1986, trong công trình cầu đường cao tốc ở Đức (Meiter, 1992) và sau đó được sử dụng rộng rải ở Anh, Ý, Hy Lạp và nhiều quốc gia khác.
Ở Châu Á, cốt FRP bắt đầu được sử dụng vào những thập niên 90, Nhật Bản là nước sử dụng cốt FRP nhiều nhất cho công trình, với hơn 100 dự án thương mại liên quan đến việc sử dụng cốt FRP. Gần đây, Trung Quốc trở thành nước sử dụng nhiều nhất cốt FRP, chủ yếu tập trung cho các công trình cầu (sàn cầu) và công trình ngầm (ACI 440.2 Đặc tính cơ lý cốt FRP Vật liệu FRP bao gồm 2 thành phần chính: chất kết đính và sợi. Chất kết dính được làm từ nhiều loại nhựa khác nhau như: epoxy resins, polyester resins, vinylester resins; polyurethane resins, phenolic resins, nhưng sử dụng phổ biến nhất hiện nay là nhựa polyester. Đối với sợi, đây là thành phần chính tạo nên các đặc tính cơ lý cho FRP và cũng được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau.
Hiện nay, có 3 loại sợi được sử dụng nhiều nhất là sợi thủy tỉnh (glass), aramid (aramid) và cacbon (carbon). Các loại sợi được liên kết với nhau bằng chất kết dính tạo thành cốt FRP. Tùy theo loại sợi mà FRP có tên gọi khác nhau như: GFRP (cốt sợi thủy tinh), AFRP (cốt sợi aramid) và CFRP (cốt sợi cacbon). Do thành phần cấu tạo của cốt FRP khác hắn so với cốt thép dẫn tới đặc tính cơ lý của cốt FRP cũng khác biệt.
Nhìn chung, các loại cốt FRP đều có mô-đun đàn hồi tương đối thấp, trong 3 loại cốt phổ biến GEFRP, CFRP, AFRP thì cốt GFRP có mô- đun đàn hồi thấp nhất chỉ dao động từ 35 tới 5I GPa, sau đó tới tới AFRP từ 41 đến 125 GPa. Đối với cốt CFRP thì có mô-đun đàn hồi cao hơn biến động từ 120 đến 580 GPa (ACI 440. Ưu và nhược điểm của cốt chịu lực FRP được thống kê trong Bảng 2.Cốt FRP có trọng lượng bản thân nhẹ hơn so với thép khoảng 4-5 lần. Cụ thê với trường hợp của cốt GFRP chỉ có trọng lượng ban thân từ 1250 đến 2100 kg/mỶ.
Trọng lượng riêng của các loại cốt FRP được tông hợp tại Bảng 2. FRP là vật liệu không đẳng hướng. Cốt FRP có cường độ chịu kéo tốt hơn so với cốt thép. Cường độ chịu kéo của chúng đao động từ 600 MPa dén 3690 MPa (cét CFRP).
Nhưng cốt FRP có cường độ chịu nén thấp hơn so với cốt thép. Cốt FRP không có ứng xử chảy dẻo. Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng của loại cốt FRP được thể hiện trên Hình 2.1: Ưu, nhược điểm cốt FRP (ACI 440.1R, 2006) Ưu điểm Nhược điểm Cường độ chịu kéo cao Không chảy dẻo trước khi đứt Chông ăn mòn. Mô-đun đàn hôi thâp Không bị nhiễm từ Dễ bị ảnh hưởng phá hủy lớp keo nền và sợi bởi bức xạ cực tím bên ngoài Độ bên mỏi cao Cường độ theo phương ngang thập.
thép) Trọng lượng nhẹ (băng 1/5 đên 1/4 | Độ bên sợi thủy tinh trong môi trường âm rất thấp. Dẫn điện và dẫn nhiệt thâp (sợi aramid, soi thuy tinh) Độ bên của sợi thủy tinh và sợi aramid trong môi trường ankyl thấp. Hệ sô dan nở vì nhiệt cao. Dễ cháy Ứng suất (MPa) 4 250 200 150 100 500 Carbon 0.04 Biến dạng Hình 2.1: Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng Một số tính chất cơ bản của cốt FRP được trình bay trong Bang 2.2: Một số đặc tính cơ bản của cốt FRP và thép (ACI 440.1R 2006) Thép GFRP CFRP AFRP Cường độ chịu kéo (MPa) 483 - 690 | 483 - 1600 | 600 - 3690 | 1720 - 2540 Mô-đun đàn hồi x10” (MPa) 200 35-51 | 120-580 | 41-125 Bién dang déo (%) 0,14-0,25] N/A N/A N/A Biến dạng đứt (%) 0,6-0,12 | 1,2-3,1 | 0,5—1,7 1,9-4,4 Một số hình ảnh về các loại cốt FRP và ứng dụng của chúng trong xây dựng được thể hiện qua Hình 2.2: Một số dạng cốt FRP (CEP-FIP 2007) Hình 2.3: Cốt GFRP dùng trong sàn (Tập đoàn xây dựng Vector) Hình 2.4: Cốt GFRP sử dụng trong sàn cầu — (Wotton, Quebec, Canada) m1" ¬ ae - .6: Cốt GFRP sử dụng trong sàn cầu (Morristown — Vermont, Mỹ) 2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ỨNG XU NUT DO UON CUA DAM BE TONG COT FRP Masmoudi và cộng sự (1998) đã phân tích ứng xử nứt do uốn của dầm bê tông cốt FRP.