Chương 1. Giới thiệu về mặt đường bê tông xi măng và phương pháp tính toán. Tính toán mặt đường bê tông xi măng có khe nối sử dụng thanh truyền lực. Khảo sát yếu tố ảnh hưởng đến sự làm việc mặt đường bê tông xi măng có khe nối.
Kết luận, kiến nghị. Tổng quát nội dung thực hiện trong luận văn như trên sơ đồ thể hiện ở Hình 1-1. Nội dung thực hiện trong luận văn ─ Trang 9 ─ CHƢƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 2.
GIỚI THIỆU VỀ MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG 2. Giới thiệu chung Mặt đường bê tông xi măng (BTXM) được định nghĩa là mặt đường ô tô có tầng mặt bằng BTXM có thể có cốt thép, lưới thép hoặc không. Trong phạm vi luận văn do thời gian có hạn tác giả chỉ trình bày về mặt đường BTXM thông thường có khe nối. Mặt đường BTXM thông thường có khe nối là loại mặt đường có tầng mặt bằng các tấm BTXM kích thước hữu hạn, liên kết với nhau bằng các khe nối (khe dọc và khe ngang).
Ngoại trừ vị trí khe nối và các khu vực cục bộ khác, trong tầng mặt BTXM loại này đều không bố trí cốt thép (mặt đường BTXM phân tấm không cốt thép) [2]. Sơ lƣợc về sự phát triển mặt đƣờng bê tông xi măng A. Trên thế giới Mặt đường bê tông xi măng đầu tiên được xây dựng vào năm 1893 (Fitch, 1996) tại Bellefontaine, Ohio. Tính đến năm 2001, đã có khoảng 59.000 km) áo đường cứng được xây dựng ở Hoa Kỳ [10].
Trong những năm qua, mặt đường BTXM đã được tiếp tục được xây dựng và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển như: Canada, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Anh, Bỉ, Hà Lan, Australia, Trung Quốc… Theo Báo cáo Long - Life Concrete Pavements in Europe and Canada” của Cục Đường bộ Liên bang Mỹ - FHWA), đến năm 2013, khối lượng mặt đường BTXM đã xây dựng ở một số nước như sau: Tại Mỹ, mặt BTXM chiếm khoảng 9% của 490.179km đường đô thị và 4% của 1.491km đường ngoài đô thị. Tỉnh Québec, Canada có 1.239km (đường 2 làn xe) trong tổng số 29.000km đường (khoảng 4%) là mặt đường BTXM nhưng lại ─ Trang 10 ─ phục vụ tới 75% lượng giao thông ở Québec. Đức, mặt đường BTXM không cốt thép, phân tấm chiếm khoảng 25% mạng lưới đường cao tốc với lưu lượng giao thông cao. Áo, đường cao tốc chiếm khoảng 25% mạng lưới đường bộ quốc gia (14.000km), trong đó mặt đường BTXM chiếm 2/3 khối lượng đường cao tốc.
Bỉ, mạng lưới đường khoảng 134.000km, gồm đường cao tốc, đường tỉnh, đường địa phương và đường nông thôn. Trong đó, đường cao tốc có khoảng 1.700km, tức là chỉ hơn 1%. Mặt đường BTXM chiếm 40% của những đường cao tốc và 60% đường nông thôn. Tổng cộng, mặt đường BTXM chiếm khoảng 17%.
Ngoài ra, Hà Lan còn có 20.000km đường xe đạp, trong đó 10% là mặt đường BTXM. Vương quốc Anh, mạng lưới đường có khoảng 285.500km là mặt đường BTXM, chiếm khoảng 67% đường cao tốc ở Úc và chiếm 60% đường cao tốc ở Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Thái Lan và một số nước trong khu vực đã xây dựng hàng trăm ngàn kilômét đường giao thông bằng BTXM. Tại Việt Nam Mặt đường BTXM đã được áp dụng ở nước ta từ trước năm 1945, một số công trình như đoạn QL3 (Thái Nguyên - Bắc Kạn, 1980), Quán Thánh - Cửa Lò (1979), QL18 (Tiên Yên - Móng Cái), đường Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình… đã được xây dựng và đang ở trong tình trạng khá tốt.
Mặt đường BTXM cũng được sử dụng thay thế mặt đường bê tông nhựa như một phương án thiết kế chống lún trồi cho mặt đường chịu tác dụng tải trọng nặng quá tải lưu thông như trong dự án Đại lộ Đông Tây Sài Gòn [11]. (a) Đại lộ Đông Tây – Tp. HCM (b) Sân bay quốc tế Đà Nẵng [12] (Nguồn: dantri. Mặt đường BTXM được sử dụng trong đường ô tô và sân bay ─ Trang 11 ─ Ngoài việc sử dụng trong xây dựng đường ô tô, mặt đường BTXM được xem là phương án phù hợp sử dụng trong sân bay như sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay quốc tế Đà Nẵng [12]… để chịu được tải trọng nặng và lực xung kích lớn.
Hiện nay, công nghệ xây dựng đường BTXM được phát triển đa dạng như: thi công thủ công, bán cơ giới thi công tại chỗ với các thiết bị chuyên dụng, thi công bê tông đầm lăn, hay có thể thi công theo phương pháp lắp ghép, các tấm mặt đường được chế tạo trong nhà máy, vận chuyển và lắp ghép trên mặt nền đã chuẩn bị xong. Tùy theo điều kiện thực tế, phương pháp thi công có thể được lựa chọn sao cho đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và kinh tế. Do đó sự phát triển của mặt đường BTXM ngày càng thuận lợi hơn. Theo ý kiến của Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng: Sự khác nhau lớn nhất giữa đường BTXM và đường bê tông nhựa là đường BTXM có cấu trúc cứng và đường bê tông nhựa có kết cấu mềm.
Cấu trúc mặt đường cứng giúp phân bố đều tải trọng, chịu va đập tốt, thích ứng với mọi loại xe, kể cả xe bánh xích. Cường độ mặt đường không thay đổi theo nhiệt độ. Mặt đường BTXM rất ổn định trong môi trường nước, chịu ngập lụt lâu ngày. Kỹ thuật thi công đa dạng, với thiết bị hiện đại, cơ giới hóa toàn bộ, từ khâu vận chuyển, rải đầm… Mặc dù đường BTXM mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng việc phát triển loại đường này ở nước ta vẫn rất khiêm tốn, chỉ chiếm gần 3% tổng chiều dài của cả hệ thống đường bộ.
Phạm vi sử dụng Theo Thông tư số 12/2013/TT-BGTVT Quy định về sử dụng kết cấu mặt đường bê tông xi măng trong đầu tư xây dựng công trình giao thông [13], kết cấu mặt đuờng BTXM được sử dụng trong dự án xây dựng công trình giao thông khi phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, cung ứng vật liệu, điều kiện thi công sửa chữa, bảo trì và khả năng nâng cấp, mở rộng sau này. Kết cấu mặt đường BTXM phải là giải pháp kỹ thuật chủ yếu trong các trường hợp sau: Mặt đường tại các khu vực trạm thu phí; bến xe; bãi đỗ xe; đường ôtô chuyên dụng, đường vào cảng; mặt đường hầm; mặt đường đập tràn; ─ Trang 12 ─ Tuyến đường bộ tại vùng chịu ảnh hưởng của ngập lụt nhưng nền đường không nằm trên vùng đất yếu; tuyến đường bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu sương mù, ẩm ướt thường xuyên; Tuyến đường bộ tại khu vực miền núi có độ dốc lớn từ 7% trở lên, khó khăn đối với công tác duy tu, bảo dưỡng nếu sử dụng các dạng kết cấu mặt đường khác; Tuyến đường bộ đào qua nền đất, đá chịu ảnh hưởng của nước ngầm; Tuyến đường giao thông nông thôn; Các công trình giao thông khác khi sử dụng kết cấu mặt đường bê tông xi măng bảo đảm hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng, sửa chữa, bảo dưỡng hơn các loại kết cấu mặt đường khác. Nhìn chung, phạm vi áp dụng của mặt đường bê tông xi măng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là sử dụng mặt đường BTXM phân tấm, không cốt thép cho tất cả các cấp đường ô tô và sân bay; mặt đường BTXM lưới thép cho đường cấp cao, sân bay và những khu vực thời tiết khắc nghiệt; mặt đường BTXM cốt thép liên tục cho đường cấp cao, đường cao tốc và sân bay; mặt đường BTXM lu lèn cho các loại đường cấp cao thứ yếu và đường nông thôn, đường miền núi… Cấu tạo mặt đƣờng bê tông xi măng Theo 22 TCN 223-95 [1] Áo đường cứng là kết cấu áo đường có lớp mặt hoặc lớp móng làm bằng bê tông xi măng – loại vật liệu có độ cứng cao, đặc tính biến dạng và cường độ của nó thực tế không phụ thuộc vào sự biến đổi của nhiệt độ. Áo đường cứng được thiết kế theo lý thuyết “tấm trên nền đàn hồi” đồng thời có xét tới sự thay đổi của nhiệt độ và của các nhân tố khác gây ra đối với tấm bê tông.
Theo Quy định tạm thời về thiết kế mặt đường bê tông xi măng thông thường có khe nối trong xây dựng công trình giao thông [2] Mặt đường BTXM là mặt đường ô tô có tầng mặt bằng bê tông xi măng, có thể có cốt thép, lưới thép hoặc không. ─ Trang 13 ─ Mặt đường BTXM thông thường có khe nối là loại mặt đường có tầng mặt bằng các tấm BTXM kích thước hữu hạn, liên kết với nhau bằng các khe nối (khe dọc và khe ngang). Kết cấu áo đường BTXM thông thường: từ trên xuống dưới bao gồm: Tầng mặt bằng bê tông xi măng thông thường Tầng móng có thể gồm lớp móng trên và lớp móng dưới Lớp đáy móng Nền đất trên cùng hay lớp nền thượng Thanh truyền lực Tấm BTXM Thanh liên kết Khe dọc Khe ngang Tạo nhám Lớp móng dưới Lớp móng trên Lớp phân cách Hình 2-2. Sơ đồ cấu tạo mặt đường bê tông xi măng thông thường có khe nối Theo AASHTO 1993 [14] cũng trình bày chi tiết về 3 loại kết cấu mặt đường BTXM: Mặt đường bê tông xi măng thông thường có khe nối (JPCP) Mặt đường bê tông cốt thép có khe nối (JRCP) Mặt đường bê tông cốt thép liên tục (CRCP) 2.
Các loại mặt đƣờng bê tông xi măng A. Mặt đƣờng bê tông thông thƣờng có khe nối Mặt đường bê tông thông thường có khe nối (JPCP) là loại mặt đường không bố trí cốt thép bên trong tấm mà chỉ sử dụng tại vị trí các khe nối và trong trường hợp cần gia cường cốt thép tại mép hay góc tấm. Tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ bố ─ Trang 14 ─ trí các khe nối xiên hay vuông góc với cạnh tấm cách nhau khoảng từ (4.5)m và có sử dụng thanh truyền lực hay không. Tại vị trí khe thi công sẽ bố trí các thanh liên kết nhằm giữ các tấm không bị dịch chuyển xa nhau trong quá trình làm việc.
Thiết kế khe nối phải giải quyết được các vấn đề sau: Hiệu quả truyền tải trọng tại khe nối: được thực hiện thông qua các thanh truyền lực hoặc sự chèn móc giữa các hạt cốt liệu. Các thanh truyền lực truyền tải trọng tốt hơn tuy nhiên việc sử dụng chúng gây phức tạp cho các thao tác trong quá trình thi công mặt đường BTXM.