MỞ ĐẦU Mục đích của đề tài Đề tài: Phân tích ứng xử của nền – móng bè – khung trong quá trình làm việc đồng thời được thực hiện với mục đích: - Phân tích và lựa chọn thông số đất nền phù hợp với bài toán. Tính toán xác định phân bố ứng suất và biến dạng của nền đất dưới tác dụng của các tải trọng của công trình và ảnh hưởng của độ lún lên sự phân bố nội lực của kết cấu. - Đánh giá sự phân bố độ lún, phân bố ứng suất cũng như nội lực trong móng bè khi mô phỏng bằng Phương pháp phần tử hữu hạn (PPPTHH). - Tiến hành phân tích và tính toán lại nội lực của hệ khung kết cấu bên trên khi mô phỏng nền đất và công trình làm việc đồng thời.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Cơ sở tổng hợp kết quả tính toán mô phỏng và so sánh với các kết quả quan trắc giúp các kỹ sư thiết kế hiểu và phân tích đúng đắn hơn sự phân bố ứng suất và biến dạng trong hệ nền đất – móng bè – khung kết cấu trong điều kiện làm việc đồng thời. Từ đó, lựa chọn được phương án kết cấu – nền móng phù hợp. Phương pháp nghiên cứu – Công cụ sử dụng - Việc tính toán mô phỏng và phân tích bài toán được thực hiện nhờ sự trợ giúp của phần mềm trên cơ sở PPPTHH. - Các số liệu sử dụng cho luận văn được lấy từ công trình thực tế.
- Kết quả tính toán được so sánh với kết quả quan trắc thực tế. Phạm vi nghiên cứu Phân tích sự tương tác của hệ nền đất – móng bè – khung làm việc đồng thời trong điều kiện nền đất ổn định tại một thời điểm. TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN CHO NỀN ĐẤT – MÓNG – KHUNG TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC ĐỒNG THỜI 1. Phương pháp tách riêng phần kết cấu bên trên và nền móng để tính toán Đây là phương pháp tính toán cơ bản được trình bày trong các giáo trình và tiêu chuẩn.
Nguyên nhân tính toán tách riêng có thể hiểu do sự phân chia công việc giữa kỹ sư kết cấu và kỹ sư địa chất, đặc trưng ứng xử khác biệt của kết cấu bên trên và nền móng bên dưới cũng như khối lượng tính toán khi khung kết cấu – nền móng làm việc đồng thời là rất lớn. Các đặc tính của kết cấu có thể được xác định một cách rõ ràng và thường giới hạn trong miền đàn hồi, trong khi các tính chất của đất thu thập được thông qua khảo sát địa chất công trình, thí nghiệm và các phần tử đất thường ứng xử với biến dạng phi tuyến. Kết cấu bên trên được xem là ngàm hoặc khớp tại chân cột để giải ra nội lực dưới tác dụng của tải trọng bản thân và ngoại lực. Kết cấu móng được tính độc lập với các tải trọng từ bên trên truyền xuống các điểm tương ứng với vị trí chân cột Với phương pháp này, móng thường được xem như đặt trên nền đàn hồi và có thể chọn biểu đồ phản lực nền theo đặc điểm của móng: - Móng xem như tuyệt đối cứng (phản lực nền phân bố tuyến tính).
Mâu thuẫn của phương pháp thể hiện rõ trong quá trình mô hình hóa từng phần để tính toán. Kết cấu bên trên luôn được mô hình là ngàm hay khớp dưới chân cột trên một mặt phẳng hoàn toàn cứng, bất chấp các biến dạng do lún lệch của nền hay uốn của bản móng. Nền móng luôn được gán với các tải trọng từ kết cấu bên trên (được tính với sơ đồ đàn hồi) truyền xuống và được giải với các thành tựu hiện có của Cơ học đất, cho dù kết cấu bên trên được giả thiết là mềm dẻo hay có độ cứng hữu hạn đi chăng nữa. Những quy luật ứng xử nổi bật trong quá trình tính toán cho nền đất – móng bè – khung kết cấu bên trên làm việc đồng thời Tính toán ứng suất tiếp xúc hay phản lực đất nền tác dụng lên đáy móng cho đến nay vẫn còn là một vấn đề phức tạp.
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho thấy phản lực đất nền phụ thuộc vào các điều kiện như: - Độ cứng của móng: ảnh hưởng đến cách lan truyền tải trọng từ móng vào đất. - Loại và trạng thái đất nền: ảnh hưởng đến sự hình thành các khu vực biến dạng dẻo trong đất [1][3]. Theo bài toán phân bố ứng suất tiếp xúc của lý thuyết bán không gian biến dạng tuyến tính dưới móng cứng, tại mép móng cứng ứng suất tăng lên đạt đến giá trị lớn vô hạn. Điều này không xảy ra trong thực tế vì trị số ứng suất bị hạn chế bởi giới hạn chảy của vật liệu cũng như độ cứng của đất.
Dưới mép móng cứng sẽ xuất hiện những biến dạng dẻo còn dư, làm cho ứng suất thực tế sẽ nhỏ hơn nhiều so với tính toán lý thuyết [11]. Sự phân bố áp suất thực tế dưới móng cứng trên một nền đàn hồi nhớt có dạng như hình 1. Đường cong phân bố ứng suất tiếp xúc dưới đế móng cứng tròn 1. Theo thực tế, bị hạn chế bởi giới hạn chảy của đất 2.
Theo tính toán lý thuyết Khi tăng tải trên móng bè, đồ thị ứng suất tiếp xúc trở nên phẳng hơn và chỉ thay đổi hình dạng khi tiến đến trạng thái giới hạn. Tuy nhiên, tải trọng của kết cấu thực bên trên móng bè hiếm khi tiến đến giá trị tới hạn. Do đó, trong phần lớn các trường hợp, biểu đồ ứng suất tiếp xúc dưới móng bè của một công trình có độ cứng tương đối lớn sẽ có hình yên ngựa. Biểu đồ ứng suất tiếp xúc không bẳng phẳng rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến nội lực của khung kết cấu bên trên.
Thông thường, độ cứng của bản móng bè nhỏ hơn đáng kể so với độ cứng của các tường, do đó phần lớn nội lực sinh ra do lún lệch sẽ được chịu bởi các tường chịu lực theo phương dọc và phương ngang của kết cấu bên trên, gây ra sự phát triển ứng suất tại các vùng góc [13]. Một ví dụ tính toán thiết kế công trình 16 tầng tại St. Petersburg và những mâu thuẫn đặc trưng rút ra khi so sánh giữa tính toán tách riêng và cho nền đất – móng bè – khung kết cấu làm việc đồng thời thể hiện ở hình 1. Sơ đồ biến dạng và các đường đồng mức lún (m) của bản móng và đất xung quanh khi thiết kế tách riêng nền móng – kết cấu bên trên.
Sơ đồ biến dạng và các đường đồng mức lún (m) của bản móng và đất xung quanh khi thiết kế cho nền đất – móng bè – kết cấu bên trên làm việc đồng thời. -7- Như vậy, khi tính toán tách biệt, các tải trọng từ kết cấu bên trên sẽ gây lún cho nền đất và uốn cho bản móng. Nhưng trên thực tế, các tường chịu lực của công trình sẽ ngăn cản lún lệch phát triển. Nếu kể đến độ cứng của tường và xem móng bè – tường chịu lực là một kết cấu nguyên khối, đặc tính biến dạng của đất nền dưới công trình sẽ giống như ứng xử dưới một tấm cứng.
Giá trị lún tuyệt đối ở phần trung tâm thay đổi không đáng kể nên có thể xem như tính toán cho nền đất – móng bè – kết cấu bên trên làm việc đồng thời không làm ảnh hưởng đến kết quả. Khảo sát sự thay đổi nội lực trong kết cấu bên trên: (a) (b) Hình 1. Đường đồng mức nội lực trong các tường chịu lực theo phương ngang (a) Khi tính toán tách riêng, không kể đến biến dạng của đất (b) Theo tính toán cho nền đất – nền móng – kết cấu bên trên làm việc đồng thời -8- Phần góc thấp hơn của tường chịu lực (trong khoảng 3 – 4 tầng đầu tiên) có ứng suất tăng gấp 3 lần trong khi vùng trung tâm giảm đi 3 lần. Đây là phần tường cung cấp khả năng kháng uốn cho kết cấu bên trên.
Từ tầng 4 trở đi, cả phương pháp tính toán kết hợp và tách riêng hầu như giống nhau về sơ đồ biến dạng và ứng suất. Các tiếp cận lý thuyết cơ bản cho tính toán nền đất – móng bè – khung kết cấu bên trên làm việc đồng thời Kết quả chính của tính toán cho nền đất – móng – khung kết cấu bên trên làm việc đồng thời là sự phân bố lại ứng suất trong nền đất và nội lực của kết cấu bên trên. Lún lệch sẽ giảm đi (so với tính toán không kể đến độ cứng của kết cấu bên trên) và kết cấu đạt được nội lực mới do lún lệch. Một số Tiêu chuẩn xây dựng nước ngoài đã có những khuyến cáo trong thiết kế nhằm kể đến ảnh hưởng của tương tác này, tuy nhiên cho đến nay ứng dụng tính toán cho nền đất – móng – khung kết cấu bên trên làm việc đồng thời vẫn chưa rộng rãi vì các máy tính điện tử phải tính toán cùng lúc kết cấu bên trên và đất nền ở dạng không gian ba chiều, sử dụng các mô hình ứng dụng PPPTHH với khối lượng tính toán khổng lồ.
Đầu tiên, tính toán cho nền đất – móng – khung kết cấu bên trên làm việc đồng thời được phát triển để phục vụ tính toán cho móng bè – kết cấu bên trên. Với định nghĩa móng nông nói chung và móng bè nói riêng là phần mở rộng ở đáy công trình, tính toán tách rời móng bè và kết cấu bên trên là không hợp lý. Để tính toán, người ta đã phát triển những phương pháp “đơn giản hóa” theo hai hướng [14]: - Hướng các giải pháp dựa trên kết quả phân tích của giả thuyết đàn hồi: nền đất được thay thế bằng một môi trường đàn hồi đẳng hướng. Đây là hướng phát triển có triển vọng cao vì có thể mô tả ứng xử của khối đất theo giả thuyết đàn hồi và có thể định nghĩa ứng suất tại bất kỳ điểm nào trong khối đất, cũng như kiểm tra xem ứng suất có tương quan với giới hạn cường độ (ví dụ, theo tiêu chuẩn Mohr – Coloumb) hay không.
Mặt khác có thể định -9- nghĩa chuyển vị trên bề mặt và trình bày rõ ràng ứng xử trong khối đất. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là thiếu sự tương ứng của biến dạng ghi nhận được trong phòng thí nghiệm (biến dạng tại hiện trường tắt dần nhanh hơn phát biểu trên lý thuyết của giả thuyết đàn hồi) hay không mô phỏng được sự mở rộng của vết lõm do lún. Để khắc phục nhược điểm này, các phương pháp kỹ thuật tính lún đưa ra các quy tắc thực nghiệm để giới hạn chiều dày khối đất chịu nén dưới đáy móng.