ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh các công trình mới ngày càng được xây dựng nhiều nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cho người dân và phát triển kinh tế đất nước, một số lượng lớn các công trình đã có, qua một thời gian sử dụng cũng dần xuống cấp nhanh chóng và bị hư hại đáng kể do tác động của điều kiện tự nhiên và con người. Việc xây dựng các công trình mới thay thế cho các công trình đã cũ, lạc hậu là rất cấp thiết nhằm đảm bảo các vấn đề về kinh tế và an sinh xã hội. Tuy nhiên, công việc này lại đòi hỏi một nguồn kinh phí khổng lồ và là một bài toán kinh tế nan giải không chỉ đối với Việt Nam mà cho cả các quốc gia khác trong khu vực. Một giải pháp hợp lý có thể dung hòa được bài toán kinh tế và vấn đề kéo dài tuổi thọ của kết cấu công trình là gia cường, sửa chữa và nâng cấp chúng.
Hiện nay, vấn đề gia cường hay nâng cấp các kết cấu bê tông nhằm làm tăng khả năng chịu tải, khắc phục những hư hỏng có thể gây sụp đổ công trình, hoặc tăng độ dẽo dai cho kết cấu thường đuợc thực hiện bằng cách sử dụng các vật liệu và các biện pháp kỹ thuật truyền thống như: (i) dán thép tấm lên bề mặt kết cấu; (2i) tăng kích thước tiết diện của kết cấu bằng cách phủ thêm lớp áo bê tông; và (3i) tạo thêm ứng suất bằng phương pháp căng sau. Giải pháp kỹ thuật thứ nhất đòi hỏi cần có máy móc cơ giới chuyên dụng dùng để lắp đặt tấm thép (do khối lượng riêng thép lớn), chi phí thi công và bảo trì không hề rẻ (do sự han gỉ của cốt thép). Giải pháp thứ hai gây ảnh hưởng đến kết cấu hiện hữu (do phải đục phá lớp bê tông cũ, neo nối cốt thép cũ và mới), làm tăng kích thước tiết diện vì vậy ảnh hưởng đến kiến trúc công trình, thời gian thi công lâu do cần thời gian cho bê tông đủ tuổi. Giải pháp thứ ba đòi hỏi kỹ thuật cao, thi công phức tạp (tạo mô men ngược dấu dễ gây nứt cho kết cấu hiện hữu), ảnh hưởng đến mỹ quan công trình (cáp nằm lộ thiên bên ngoài) và giá thành không hề rẻ.
Gần đây, với những đặc tính nổi bật như có khối lượng riêng nhẹ, không bị ăn mòn, có cường độ chịu kéo cao, thi công đơn giản và nhanh chóng với giá thành hợp lý, kỹ thuật gia cuờng dùng vật liệu “nhựa polymer gia cường sợi” (Fiber Reinforced Polymers - FRP) đang nổi lên như một giải pháp hiệu quả so với các vật liệu và kỹ thuật truyền thống đã đề cập. Mặc dù vậy, ứng dụng gia cường kết cấu BTCT bằng tấm FRP chưa được sử dụng phổ biến nhiều ở Việt Nam bên cạnh lý do về yếu tố giá thành của tấm FRP, các hiểu biết chưa thật sự đầy đủ về ứng xử, phương pháp luận cũng như quy trình tính toán cụ thể đối với kết cấu BTCT gia cường FRP thật sự là một trở ngại lớn. Trang 1 Chương 1: Đặt vấn đề Để tìm hiểu ứng xử của kết cấu nói chung hoặc kết cấu BTCT gia cường tấm FRP nói riêng, hiện nay, có hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi là thực nghiệm hoặc mô phỏng số. Phương pháp thực nghiệm được sử dụng phổ biến do hiệu quả rất cao của nó trong công tác nghiên cứu, cho kết quả nhanh chóng, trực quan và có độ tin cậy cao, tuy nhiên phương pháp này thường tốn kém, dẫn đến số lượng mẫu thí nghiệm thường bị hạn chế, kích thước mẫu đa phần không phản ánh đúng kích thước của cấu kiện thực tế và cùng một lúc khó có thể khảo sát nhiều tham số khác nhau.
Trong khi đó, phương pháp số giúp giảm chi phí, thực hiện được trên các cấu kiện hoặc kết cấu phức tạp và đúng kích thước, vì vậy là phương pháp này cần thiết có thể bổ sung hiệu quả cho phương pháp thực nghiệm. Trong kết cấu bê tông gia cường tấm FRP, ứng xử bám dính-trượt giữa bê tông và tấm FRP quyết định đến hiệu quả gia cường của tấm FRP và vì vậy ảnh hưởng mạnh đến ứng xử và khả năng chịu lực của kết cấu. Hiện nay, trong các bài toán mô phỏng cấu kiện BTCT (dầm, sàn…) gia cường dùng vật liệu FRP, tương tác giữa tấm gia cường FRP với bê tông được khai báo theo hai mô hình: bám dính tuyệt đối và bám dính – trượt. Mô hình bám dính tuyệt đối giữa vật liệu FRP và bê tông được sử dụng trong các nghiên cứu của Yang và cộng sự (2003), Hu và cộng sự (2003).
Mô hình này rõ ràng không phản ánh đúng ứng xử thực tế của tấm gia cường FRP. Vì vậy, một số tác giả đã sử dụng các mô hình bám dính - trượt trong việc mô phỏng ứng xử của cấu kiện BTCT gia cường tấm FRP nhằm có được những hiểu biết xác thực nhất về ứng xử của dạng kết cấu này (Godat và cộng sự, 2007; Chen và cộng sự, 2010; You và cộng sự, 2011; Chen và cộng sự, 2011). Các mô hình bám dính – trượt giữa tấm FRP và bê tông vừa đề cập thường được xây dựng dựa trên phương pháp thực nghiệm hoặc bán thực nghiệm (Neubauer và Rostasy, 1999; Nakaba và cộng sự, 2001; Savioa và cộng sự, 2003, Monti và cộng sự, 2003; Dai và cộng sự, 2005; Guo và cộng sự, 2005; Lu và cộng sự, 2005; Zhou và cộng sự, 2010; Liu và cộng sự, 2012; Biscaia và cộng sự, 2012; Baky và cộng sự, 2012). Trong số này, một số mô hình chỉ mới đề cập đến ảnh hưởng đơn điệu của cường độ bê tông đến ứng xử bám dính – trượt, chưa xét đến các yếu tố khác như độ cứng của tấm và keo, và được xây dựng dựa trên một số lượng mẫu hạn chế (Nakaba và cộng sự, 2001; Guo và cộng sự, 2005; Savioa và cộng sự, 2003; Dai và cộng sự, 2005; Biscaia và cộng sự, 2012).
Bên cạnh đó, một số mô hình quá phức tạp vì chứa nhiều tham số khó xác định trong thí nghiệm (Baky và cộng sự, 2012). Ngoài ra, tất cả các mô hình trên đều chưa xét được ảnh hưởng tương tác giữa các yếu tố như cường độ, độ cứng tấm FRP và của lớp keo dán, tỉ số của bề rộng tấm FRP trên bề rộng của mẫu bê tông. Trang 2 Chương 1: Đặt vấn đề Đề tài nghiên cứu ứng xử bám dính – trượt của tấm CFRP và bê tông có cường độ thay đổi từ 30 đến 90 MPa. Dựa trên kết quả từ thực nghiệm này và các nghiên cứu đã có, đề tài xây dựng một mô hình bám dính –trượt mới giữa FRP và bê tông.
Một chương trình mô phỏng số bằng phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) dựa trên phần mềm phân tích phi tuyến kết cấu Abaqus được thực hiện trên các mẫu thí nghiệm bám dính giữa tấm CFRP và bê tông có sử dụng phần tử liên kết mặt để rà soát và đánh giá lại mô hình đề xuất. Sau đó, tính hợp lý của mô hình đề xuất được kiểm chứng thông qua một thư viện dữ liệu thực nghiệm đủ rộng và tổng quát. Mức độ chính xác của mô hình được so sánh với một số các mô hình tiêu biểu hiện có. Cuối cùng, đề tài tiến hành mô phỏng và phân tích ứng xử của dầm BTCT gia cường tấm FRP dạng U có dùng phần tử liên kết mặt đã được lồng ghép mô hình đề xuất.
Kết quả mô phỏng được so sánh với kết quả thực nghiệm 10 mẫu dầm đã có để kiểm tra tính hợp lý của mô hình trong thực tế. Trang 3 Chương 2: Tổng quan CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN 2. Sơ lược về vật liệu FRP FRP là vật liệu liên hợp gồm có 2 thành phần: vật liệu nền (chất nền – polymer) và vật liệu cốt (sợi – fiber). Chất nền có chức năng liên kết các sợi, phân phối lực đồng đều giữa các sợi và bảo vệ các sợi khỏi sự xâm thực của các tác động bất lợi từ môi trường.
Sợi có chức năng gia cường, là phần chịu lực chính của vật liệu FRP. Tính chất cơ lý của vật liệu sợi (fiber): sợi gồm hàng ngàn sợi nhỏ (đường kính khoảng vài m ); các sợi liên tục với chiều dài không giới hạn thường dùng trong kết cấu xây dựng còn các sợi ngắn (chiều dài 10 50mm ) thường dùng để phủ lên tàu thủy. Sợi liên tục chiếm tỷ lệ % lớn về khối lượng trong FRP hơn so với vật liệu nền (khoảng 60~70%). Hầu hết các tính chất cơ học đặc trưng của sợi đều tốt hơn chất nền.
Tuy nhiên, sợi không thể sử dụng độc lập được mà phải sử dụng chung với chất nền để có thể phát huy các đặc tính tốt của nó. Vật liệu sợi gồm 3 loại chính: sợi thủy tinh; sợi các-bon; sợi aramid. Ngoài ra, còn có các loại sợi khác như UHMW (ultrahigh-molecular-weight), PVA (polyvinyl alcohol). (a) Sợi thủy tinh Thành phần chủ yếu là SiO2 (chiếm 50% 70% về khối lượng FRP) gồm các lớp sợi: E, A, C, AR, S có đường kính 3 24 m (thường là 17 m ) với các tính chất vật lý như có màu trắng sáng hoặc màu mắt rắn; được sản xuất ở nhiệt độ khoảng 14000 C với một lớp bề mặt (gọi là sizing); sợi thủy tinh cách điện, cách nhiệt rất tốt, không quá đắt; tuy nhiên có một số nhược điểm như bị xâm thực trong môi trường muối, kiềm; bị mỏi khi tải trọng đạt 60% tải trọng tới hạn.
Về tính chất cơ học, sợi thủy tinh là vật liệu đẳng hướng. Tính chất cơ học của sợi được tổng hợp trong Bảng 2.1: Tính chất cơ lý của các lớp sợi thủy tinh Khối lượng Mô-đun đàn Cường độ Biến dạng Lớp sợi thủy riêng hồi kéo chịu kéo tối đa tinh 3 g cm GPa MPa % E 2.47 88 4600 3 Trang 4 Chương 2: Tổng quan (b) Sợi các-bon Được dùng trong các ứng dụng của kỹ thuật công trình dưới dạng là các tấm đan, dệt, các dãy, dây gân gồm các lớp sợi: SM (standard modulus), IM (intermediate modulus), HS (high strength), UHM (ultrahigh modulus) có đường kính 5 10 m với các tính chất vật lý như có màu đen; được sản xuất ở nhiệt độ cao khoảng 1200 24000 C cũng có một lớp bề mặt như sợi thủy tinh; sợi các-bon không bị xâm thực bởi môi trường; có hệ số giản nở do nhiệt theo chiều dọc rất thấp, hầu như không có; tuy nhiên có một số nhược điểm như sợi các-bon dẫn điện và dẫn nhiệt; đồng thời giá thành cao. Tính chất cơ học của sợi được tổng hợp trong Bảng 2.