MỞ ĐẦU 1. Van đề thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài Hiện nay không gian ngầm thường được khai thác triệt để nhăm tận dụng diện tích đất đắt đỏ ở các thành phố phát triển như thành phố Hồ Chí Minh. Không gian ngâm thường được sử dụng vào các mục đích như tầng hầm kỹ thuật và dịch vụ của các nha cao tang, bãi đậu xe ngâm, hệ thong giao thông ngâm, hệ thống xử lý nước thai,. Hệ thống tường chăn có giăng chống là biện pháp thường được sử dụng khi thi công tầng ham.
Do những ứng xử phức tạp của đất trong quá trình dao dat thi công tầng hầm nên việc phân tích, tính toán biện pháp thi công cần được thực hiện can thận và day đủ, nhất là khi thi công hồ dao sâu trong những vùng có lớp sét yếu dày gần bể mặt như quận 2, quận 7, quận 9, quận Bình Thạnh. thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với sự gia tăng sử dụng các phần mềm phan tử hữu han trong thiết kế hỗ đào sâu, cần có một phương pháp giải tích đơn giản để kiểm tra kết quả từ phan mềm, tránh xảy ra sự cô nghiêm trọng như sập hỗ đào công trình Nicoll Highway ở Singapore (Shirlow, 2005). Theo báo cáo của ủy ban điều tra, sự sai sót trong phan mềm phan tu htru han la mot phan lý do chính gây ra sự cố.
Chính vì lý do đó, việc nghiên cứu ứng xử giữa đất và tường hỗ đào sâu trong đất sét yếu bão hòa nước là nhu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Osman và Bolton (2006) đã giới thiệu phương pháp cường độ thiết kế huy động (MSD) dé tính toán chuyển vị tường vây và biến dạng của đất nên khi thi công hồ dao sâu trong đất sét mém không thoát nước với các bước tính toán đơn giản. Giải pháp MSD cho kết quả phù hợp với các mô phỏng số sử dụng mô hình phi tuyến thực MIT-E3 và các kết quả quan trắc tại hiện trường. Tuy nhiên, giải pháp này vẫn còn một số hạn chế trong ứng dụng.
Những hạn chế của phương pháp MSD đã được khắc phục trong phương pháp cường độ thiết kế huy động mở rộng (EMSD) do Lam và Bolton (2011) đề xuất. Phương pháp phan tử hữu han là giải pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích hô đào sâu nhờ ưu điêm có thê mô phỏng các ứng xử phức tạp của đât nên trong quá 2. trình đào. Hai mô hình phố biến thường sử dung cho phân tích hỗ dao sâu là Mohr - Coulomb va Hardening Soil.
Mô hình dan hồi - dẻo ly tưởng Mohr - Coulomb có ưu điểm là các thông số đầu vào đơn giản có thé xác định từ các thí nghiệm pho biến. Bên cạnh đó, mô hình Mohr - Coulomb cũng có một số nhược điểm như không mô phỏng được các quan hệ phi tuyến của đất trước khi phá hoại, không thể tạo ra áp lực nước lỗ rỗng đáng tin cậy trong quá trình đào không thoát nước, kết quả tính toán chuyền vị của tường và độ lún bề mặt của đất nền thường có sai số khá lớn so với số liệu quan trắc. Mô hình đàn hỏi - dẻo phi tuyến Hardening Soil có thé khắc phục được những nhược điểm nêu trên của mô hình Mohr - Coulomb nên đảm bảo được tính tin cậy và độ chính xác trong phân tích. Kết quả tính toán từ mô phỏng số sử dụng mô hình Hardening Soil sẽ được sử dụng để xác nhận độ tin cậy của phương pháp cường độ thiết kế huy động mở rộng EMSD.
Mục tiêu nghiên cứu Luận văn này tập trung vào việc phân tích, đánh giá hiệu quả của phương pháp cường độ thiết kế huy động mở rộng khi phân tích chuyển vị ngang của tường vây hố dao sâu trong đất sét yếu bão hòa nước cho một công trình ở khu vực quận 7, thành phố H6 Chí Minh. Chuyển vị ngang của tường vây còn được tính toán băng phương pháp phan tử hữu hạn sử dụng mô hình Hardening Soil để so sánh, đánh giá hiệu quả của phương pháp cường độ thiết kế huy động mở rộng. Ảnh hưởng của các thông số cơ bản trong phương pháp EMSD và các thông số đại diện của lớp bùn sét trong mô hình Hardening soil đến kết quả tính toán chuyên vị ngang của tường vây được phân tích bằng cách thay đổi giá trị của các thông số này. Phương pháp nghiền cứu Nghiên cứu lý thuyết cường độ huy động trong đất sét mềm không thoát nước khi thi công hố đào sâu có giằng chống.
Tính toán chuyển vị ngang của tường vây trong từng giai đoạn thi công đào đất tầng hầm trên cơ sở phương pháp cường độ thiết kế huy động mở rộng và phương -3- pháp phần tử hữu hạn theo mô hình Hardening Soil. So sánh kết quả từ hai phương pháp này với số liệu quan trắc hiện trường để đánh giá hiệu quả của mỗi phương pháp. Thay đổi giá trị các thông số sức chống cắt không thoát nước c„, chiều dai tường vây L để phân tích ảnh hường của các thông số này trong phương pháp EMSD. Thay đổi giá trị các thông số độ cứng tiếp tuyến từ thí nghiệm nén cô kết E7”.
độ cứng cát tuyến E77, độ cứng dở tải - đặt tải E” , góc ma sát trong hữu hiệu ø, lực dính hữu hiệu c„„ để phân tích ảnh hưởng của các thông số này trong mô hình Hardening Soil. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả tính toán từ công trình thực tế có đối chiếu với số liệu quan trắc hiện trường nên có tính khoa học và thực tiễn cao. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích dé các kỹ sư phân tích chuyển vi ngang của tường vây trong các khu vực đất yếu khi lập biện pháp thi công đào đất cho tầng ham. Từ đó lựa chọn phương pháp tính toán và mô hình phù hợp.
Pham vi giới hạn của đề tài Công trình tiếp cận hướng nghiên cứu của dé tài luận văn là “Dự án căn hộ va thương mại Sunrise city lô V, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh”. Phạm vi nghiên cứu giới han trong việc xác định chuyền vị ngang của tường vây. Các phân tích theo phương pháp phan tử hữu han được thực hiện băng phần mềm Plaxis phiên bản 8.5 theo mô hình Hardening Soil. CHUONG 2 TONG QUAN VE HO DAO SAU 2.
Quan sat thuc nghiém 2. Phuong phap cua Peck Peck (1969) tong kết quan sát hiện trường độ lún bề mặt của đất nền xung quanh hồ đào trong biểu đồ được thé hiện qua hình 2. Phương pháp nay có thé thích hợp với lún dạng tường. Như thể hiện trong hình, đường cong lún phân loại theo 3 vùng, I, I và III, phụ thuộc vào loại đất và tay nghề lao động.1, N, đại diện cho số Ôn định, va WN, đại diện cho số 6n định tới hạn cho day trồi đáy.
Trường hợp lịch sử được sử dụng trong phát triển của hình này là trước năm 1969 và hỗ đào được chỗng đỡ bang cir thép hay coc chống với thanh ngang. Phương pháp này dé xuất rang độ lún của đất nền lớn nhất cho đất sét rat mềm đến mém là khoảng 1% của chiều sâu đảo lớn nhất. Vùng ảnh hưởng theo phương ngang được mở rộng tới hai lần chiều sâu dao lớn nhất. Với việc sử dụng kỹ thuật mới hơn, như sử dụng tường vây trong đất, độ lún lớn nhất thường nhỏ hơn các định nghĩa trong hình.
Tuy nhiên, phương pháp của Peck là tiếp cận thực nghiệm đầu tiên cho ước lượng độ lún bê mặt của đât nên. Distance from Excovotion Maximum Depth of Excavation zone I ac. ay Average Workmanship Soft to Har lí N Sand and Be 9 LÔ eo 3 ˆ Zone TT S a) Very Soft to Soft Clay 5 1) Limited depth of clay below bottom of 5S excavation 2 2) Significant depth of clay below bot- el tom of excavation but N,<N., (See Vio Ele Chapter 8) = Hị b) Settlements affected by construction dif- o ficulties E Fe zone IIT ¬ „ v Very Soft to Soft Clay to a significant S depth below bottom of excavation and with * 3- Depths of NE Nob Soft to Medium Clay Excavation, ft. Note: @ Chicago, ——_ đi nh 38 All data shown are for excavations a4 _— ° OS eteriand’ 1 "Wa using standard soldier piles or v Oslo, Norway, Vaterland 32 - 35 xiên 2n i hệ d with cross- a Stiff Clay anđ Cohesive Sand 34 - 74 0 Cohesionless Sand 39 - 47 Hình 2.
Tổng kết độ lún gần khu vực đào mở trong các loại đất khác nhau như một hàm của khoảng cách từ cạnh hồ dao.2 thể hiện áp lực biểu kiến bán thực nghiệm phát triển bởi Terzaghi và Peck (1967) dé dự đoán lực lớn nhất trong thanh chồng có thé xảy ra trong hồ dao có giăng chồng. Nó không mô tả phân phối thực của áp lực đất từ đó có thể tính lực trong thanh chống có thé tiếp cận nhưng sẽ không vượt quá trong hồ đảo thực tế. Phương pháp này được đánh giá bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau như Wong và cộng sự (1997) và Ng (1998). Sonds Soft to Medium Stiff- Fissured Clays Clays ke __2 0.25H 2 2 ⁄⁄⁄25——T- Yj7Yh, fy Af, b 7/2, Uj⁄⁄⁄ | —— K, = tan" (45-¢/2) in + l K,„=l~m - tụ.
m=1,0 Except os Noted (ø) (bì (c) Hình 2. Biểu đồ áp lực đất biểu kiến được dé xuất bởi Tezaghi và Peck (1967) cho tính toán tải thanh chống trong dao mở. Ng (1998) đã thực hiện nghiên cứu hiện trường trên một hỗ đào sâu 10 m nhiễu tang chống trong đất sét quá cố kết và nứt Gault. So sánh kết quả do được và áp lực đất thiết kế của Peck được thực hiện.
Giá trị đo gần với biên giá trị thấp hơn của biéu đồ Peck. Lực trong thanh chống của tang chống thấp nhất được tìm ra có phần nhỏ hơn do ứng suất ngang thấp nhất trong đất theo thi công của tường vây. Wong và cộng sự (1997) cho rằng áp lực biểu kiến của đất cho trên 10% của H vượt qua biên hình thang của biểu đồ áp lực biểu kiến của đất cho cả đất sét cứng và sét mềm đã được dé xuất bởi Terzaghi và Peck (1967). Điều này có thé do vị trí cao của cao độ tầng chống dau tiên và sử dung áp lực trước.
Họ còn dé xuất là biéu đồ áp lực biêu kiên của đât nên mở rộng đên bê mặt đât hơn là giảm tới 0. Không có -6- khác biệt đáng ké trong xu hướng giữa các giá trị áp lực đất biểu kiến của hố đào được chắn giữ bởi tường với độ cứng khác nhau được tìm thấy.