Chương 1: Tiền dé lý luận liên quan đến phong tục tập quấn trong quan hệ gia đình được phản ánh qua tục ngữ, ca dao 13 Chương 2: Những quan he chính trong gia đình người Việt thể hiện qua tục ngữ Chương 3: Những quan hé chính trong gia đình người Việt thể hiện qua ca dao Chương 4: So sánh sự phản ánh phong tục tập quán về gia đình giữa tục ngữ và ca dao 14 CHUONG I TIỀN DE LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN PHONG TỤC TẬP QUAN TRONG QUAN HE GIA DINH ĐƯỢC PHAN ANH QUA TỤC NGỮ, CA DAO 1. NHŨNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 1. Khái niệm gia đình Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn noi giống, giữ gìn và phát huy những giá trị van hóa của cong đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về van hóa Việt Nam.
Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc, gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự to tông, đạo làm con, thượng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, ky nhựt, tứ thời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý là trong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minh chứng. Phan Kế Bính đã đưa ra nhận xét như sau: trong quan hệ gia đình người Việt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, dao làm con phải trọng chữ hiếu, vợ chồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau.
Ông cũng phê phán một số biểu hiện tiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình như trọng nam khinh nữ, đa thê. Trong Từm hiểu phong tục Việt nam qua nếp cũ gia đình, tác giả Toan Ánh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh: lã Gia đình chỉ "những người thân thuộc trong một nha. Ông giới thiệu tóm tắt về thành phần gia đình Việt Nam và viết: "Qua các thành phần trên cho thấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại. Tác giả néu lên một số vấn đề đáng chú ý là: - "Bổn phan của ông ba cha me là phải ran dạy con cháu, và chịu trách nhiệm về hành vi của con cháu.
Con cháu không chịu vâng lời, ông bà cha mẹ có quyền dánh mắng." - "Người mẹ là vợ của người cha, nghĩa là người vợ của người chủ gia đình khi có con. "Người mẹ cũng có quyền như người cha, nhưng phải theo quyết định của người cha, vì lé vợ phải theo chồng." - "Cha mẹ có bổn phận phải nuôi con lúc nhỏ, con cũng có nhiệm vụ phụng dưỡng cha mẹ lúc già." - "Anh chị em ở với nhau khi còn sống chung với cha mẹ phải hòa thuận, thương yêu nhau, khi khôn lớn, cha mẹ cho ở riêng hoặc cha mẹ chết, phải thương yêu giúp: đỡ lấn nhau." - "Vợ chồng là hai trụ cột của gia đình, sau sẽ trở thành cha me, ông bà. Kể từ khi đôi bên kết hôn với nhau là có nghĩa vụ với kẻ trên, người dưới của đôi bên nữa. Vợ chồng tuy lấy nhau, như trên đã nói, không được ra ở riêng nếu không được ông bà cha mẹ cho phép và phải lo làm ăn để phụng dưỡng ông bà cha mẹ.
Nếu con cháu lười biếng đến nỗi ông bà cha mẹ phải tự sát thì phải tội. Khi ông ba cha me tuổi già sức yếu, bệnh tật, con cháu không nuôi cũng có tội. Đó là bổn phận đối với kẻ trên, lại còn những bổn phận đối với người dưới phải lo dạy dỗ, gây dung con em. Con cm có lỗi phải trừng phạt.
a) 16 Ngoài ra vợ chồng an ở với nhau còn có nhiệm vụ và bổn phan đúng với lẽ tong phu. Bỏ chồng ra di, can tội bội phu, bị pháp luật trừng phạt. Đàn ông có ở gửi rể, vợ cũng phải kính chồng. Đánh chồng, giết chồng phải tội nặng.
Chồng phải nuôi vợ, dạy vợ. Không dược cầm vợ, bán vợ. Vự vi phạm pháp luật, chồng có tội. Của cải của chồng là của vợ, trái lại, của vợ cũng là của chồng.
Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã xem xét Gia đình truyền thống Việt Nam voi ảnh hưởng Nho giáo và viết: "Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lí thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thế chế chính trị - kinh tế- xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điểu kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là: - Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp. - Trật tự trên dưới theo phân vi. - Tổ chức làng - họ.
- Cuộc sống nông thôn và cung đình. - Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tưởng sống êm ấm, trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông, người cha, người chồng". [57:314] "Ảnh hưởng Nho giáo đến gia đình truyền thống Việt Nam là lâu dai và liên tục cho đến khi Việt Nam thành thuộc địa cua Pháp và xã hội Việt Nam bắt đầu Âu hoá. Nhưng ảnh hưởng đó cũng có khác nhau tuỳ từng thời kỳ, từng vùng và từng loại gia đình.
Trong việc nghiên cứu gia đình truyền thống và ảnh 17 hưởng Nho giáo trong đó, cũng chỉ một vài loại gia đình thực sự có ý nghĩa". [57:315] Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta trước đây để chỉ ra có bốn hạng người trong dân là sĩ, nông, công, thương, nhưng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông "Phân biệt gia đình truyền thống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ. Tác giả viết: "Trong xã hội trước dây, nông dân và nhà nho có vai trò xã hội lớn nhất, gia đình nông dân và gia đình nhà nho cũng là tiêu biểu nhất.
Gia đình nông dân, đặc biệt là gia đình trung nóng, tiêu biểu cho cách tổ chức làm ăn sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc và đóng góp cho làng nước. Gia đình nhà nho tiêu biểu cho cách dùng lễ nghĩa xây dựng nên nếp trong nhà và ăn ở với họ hàng làng xóm. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm và nhận xét bước đầu về gia đình người Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình người Việt cổ truyền, Nguyễn từ Chi nhấn mạnh đến loại lô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từ nông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bac Bộ, cả trên khắp đất nước, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt đại đa số các trường hợp, là gia đình hạt nhân.
Ông nhìn sâu vào tính chất của pia đình Việt cổ truyền như sau: “Tính chất phụ quyền của gia tộc Việt là điều đã được nhiều lần nhấn mạnh, với các nguyên lý chính làm khung cho nó: quyển uy tối cao của người cha với con cái, của người chồng dối với người vợ, dặc quyền thừa kế của con trai, đặc biệt của con trai trưởng, vai trò quán triệt, có khi hầu như độc tôn của đàn ông chủ hộ trong mọi tổ chức ngoại gia đình. Tính chất phụ quyền ấy còn được tô đậm bởi nhiều thế kỷ giáo duc nhà Nho. Trên bình diện sinh hoạt cộng đồng của làng — xã, sự vắng mặt quá “lộ liễu” của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức càng nói lên thế lép vế của họ. Tuy nhiên, nguyên lý, nhiều khi chỉ là nguyên lý, chỉ là biểu hiện của “cấu trúc hữu thức” cộng đồng.
Xét lại vấn đề dưới góc ADE—- 18 đó thực tế hơn của nền kinh tế tiểu gia đình, thì số phận người phụ nữ Việt đâu có hẩm hiu như thế. Không phải chỉ vì họ là người tiếp tay đác lực và không thể thiếu cho cha, cho chồng, trong lao động nông nghiệp nang nhọc, mà còn (và chú yếu?) bởi vì “luồng tiểu thương rất phát dat trong vùng châu thổ [và trung du Bắc Bộ - TT], thực ra là nam trong tay phụ nữ. Nhu vậy, chính người phụ nữ mang về cho gia đình một phân thu nhập không phải khong đáng kể, dưới dạng tiền mặt, còn nông phẩm lại thể hiện khía canht tự cấp tự túc của nền kinh tế nông thôn.[192] Những tác phẩm được dẫn ra trên đây giúp chúng ta hình dung về tổ chức và tính chất gia đình Việt Nam truyền thống để có thể so sánh với các hình máu gia đình được tục ngữ, ca dao phan ánh. Xã hội Việt Nam cổ truyền có hai loại gia dinh cơ bản: gia đình nông dan và gia đình nhà nho.
Gia đình nông dân là một don vị sản xuất theo kiểu chong cay, vợ cấy, con trâu di bừa. Gia đình nhà nho là gia đình theo kiểu bên anh dọc sách bên nàng quay tơ. Năm 1991, công trình Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam ( NXB Khoa hoc xã hội - Hà Nội- 1991) đã công bố 12 bài nghiên cứu về gia đình, cho chúng ta hình dung về sự biến đổi sâu sắc của gia đình truyền thống Việt Nam trong thời kỳ mới của lịch sử Việt Nam có chủ trương đổi mới của Đảng ( năm 1986). Chúng ta biết rằng vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa Việt Nam, xã hội Việt Nam phân tầng sâu sắc, quá trình Âu hoá điễn ra nhanh chóng ở các đô thị và có ảnh hưởng nhất định vào nông thôn Việt Nam.
Triều đình Huế đã chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán, Hán học bị thất thé, Vũ Dinh Liên với bài thơ Ong Dé chia sẻ tâm trạng của cả xã hội Việt Nam đối vơi tâng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giai tầng mới, trong đó có viên chức và công nhân.