CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa 1. Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ 1.
Khái niệm nghĩa của từ Hiểu một cách chung nhất, nghĩa của từ, ngữ cố định là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ, ngữ cố định gợi ra khi chúng tiếp xúc với từ, ngữ đó. Nhờ nghĩa của từ mà chúng ta kết hợp từ với từ để tạo nên nghĩa của câu và nhờ nghĩa của từ trong một câu mà chúng ta hiểu được nghĩa của câu đó. Các thành phần trung tâm trong nghĩa của từ Trong các thành phần nghĩa của từ nêu ở trên, các nhà ngôn ngữ học thường phân thành hai bộ phận là bộ phận trung tâm, điển hình gồm có thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm; nghĩa ngữ pháp là bộ phận đầu cùng của nghĩa biểu niệm nên thường gộp vào nghĩa biểu niệm, khi cần mới được tách ra; bộ phận phi trung tâm, kém điển hình bao gồm nghĩa biểu thái, nghĩa liên tưởng. Trong bộ phận nghĩa phi trung tâm, các nhà nghiên cứu thường nói nhiều đến nghĩa biểu thái, nghĩa liên tưởng.
Sau đây là các thành phần nghĩa đó. Nghĩa biểu vật Thành phần nghĩa này còn gọi là nghĩa sở chỉ, là thành phần nghĩa chỉ ra sự vật (Nguyễn Thiện Giáp). Nghĩa biểu vật là loại sự vật được từ gọi tên, biểu thị (Đỗ Hữu Châu). Trong câu Muôn chim non cùng ngây thơ ca hát (Thu về, Chế Lan Viên) từ chim non không có sở chỉ (tức là không chỉ vào một đối tượng cụ thể nào hiện hữu trước mắt).
Nhưng người ta vẫn có thể hình dung sự vật như thế nào thì được gọi là chim non. Cái biểu tượng chung bao gồm tất cả những sự vật được gọi làchim non, đó là nghĩa sở thị (hay nghĩa biểu vật) của từ này. Như vậy, nghĩa biểu vật của các từ bò, sách, nhà, cây, chạy, đen, buồn… là tất cả những đối tượng về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất được các từ này biểu thị mà ta cảm biết được. 7 Nghĩa biểu vật của từ còn là phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng.
Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của các từ thương, yêu, hờn, dỗi, âu yếm, ăn uống, suy nghĩ, hứa, nói mát, chửi, tặng … là người, không phải là nghĩa biểu vật của các từ bất động vật. Một số điểm cần lưu ý về nghĩa biểu vật: Nghĩa biểu vật là sự liên hệ giữa từ với đối tượng (sự vật, hiện tượng, quá trình, hoạt động, tính chất …). Khi từ biểu thị (chỉ ra, gọi tên …) sự vật, ta nói từ có nghĩa biểu vật. Với nghĩa biểu vật, từ là tên gọi của sự vật, thuộc tính, hoạt động.
Nếu thay thế nghĩa biểu vật của từ với hình thức biểu vật phi ngôn ngữ tương ứng, chẳng hạn dùng tay để chỉ, dùng hình vẽ để biểu thị, ta sẽ thấy rõ hơn nghĩa biểu vật của từ. Ví dụ, ta thay nghĩa biểu vật của từ bút bằng chiếc bút, bức tranh vẽ bút; thay nghĩa biểu vật của từ chạy bằng hành động trực quan chạy … Nghĩa biểu vật không chỉ tồn tại trong từ mà còn tồn tại trong cụm từ tự do, cụm từ cố định. Tuy nhiên nghĩa biểu vật của từ mang tính tổng hợp, khái quát cho cả một chủng loại sự vật, nó chỉ gọi tên đối tượng một cách trực tiếp mà không chỉ ra đặc điểm của đối tượng. Nó là tên gọi, định danh có tính “ngẫu nhiên” không biểu thị bản chất của sự vật, do vậy mối quan hệ giữa nó với đối tượng là mang tính võ đoán (không có lý do).
Đối tượng được gọi tên ấy (sự vật, hiện tượng, quá trình hoạt động tính chất…) là cái biểu vật. Cái biểu vật này có thể là hiện thực hoặc phi hiện thực, vật chất hoặc phi vật chất, là toàn bộ các cá thể đối tượng được từ gọi tên, là phạm vi biểu vật của từ đó. Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng tồn tại ở dạng cụ thể, cá thể còn nghĩa biểu vật của từ manh tính tổng hợp, khái quát cho cả chủng loại, sự vật, hiện tượng. Ví dụ, ý nghĩa biểu vật của từ đi là [hoạt động dời chỗ] nói chung nhưng thực tế lại có đi nhanh, đi chậm, đi lên đường, đi ra vườn, người đi, mèo đi…; ý nghĩa biểu vật của từ nhà là [công trình xây dựng dùng để ở]… nhưng trong thực tế mỗi cái nhà lại có hình khối, cách xây dựng lắp ghép, vị trí, kích cỡ, chất liệu…cụ thể rất khác nhau.
Nghĩa biểu vật của từ không hoàn toàn tương ứng với sự vật mà nó gọi tên trừ nghĩa biểu vật của thuật ngữ khoa học, thuật ngữ nghề nghiệp. Ví dụ, trong ngôn ngữ thông dụng, trong tri nhận dân gian thông thường phổ quát ta vẫn gọi một bộ phận của rễ cây phình to, hình tròn, nằm chìm dưới mặt đất là củ như củ khoai, củ sắn, củ chuối, 8 củ lạc, củ hành, củ tỏi … nhưng trong khoa học củ chỉ đúng với khoai, sắn, còn lạc thì phải gọi là quả lạc, còn su hào, chuối phải gọi là thân…Cũng như vậy, trong ngôn ngữ ta gọi loài động vật sống dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang, đẻ trứng… là cá như cá chép, cá quả, cá rô, cá thu, cá ngừ, cá voi, cá sấu…nhưng trong khoa học cá chỉ dùng với chép, quả, rô, thu, ngừ…còn voi phải xếp vào loại thú (vì loài này mang những đặc điểm của loài thú như thở bằng phổi, đẻ con, nuôi bằng sữa)… Cần thấy rằng, tồn tại thế giới mang tính tổng thể, liên tục (continium), để nghiên cứu nó, ta phải “chia cắt” tổng thể nó ra thành từng bộ phận ứng với các “trường” thuộc những phạm vi, bình diện khác nhau. Việc “chia cắt” này phụ thuộc vào thói quen tư duy, thói quen ngôn ngữ của chúng ta. Thuyết tương đối luận ngôn ngữ, đại diện là Sapir và Whorf, đã chỉ ra rằng ngôn ngữ chia cắt thực tại theo những cách khác nhau và cách nhìn của chúng ta về thế giới không chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng.
Điều này thấy rất rõ khi đối sánh các ngôn ngữ. Có những sự vật có từ gọi tên trong ngôn ngữ này mà không có từ tương ứng trong ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, tiếng Việt có các từ chỉ sự vật phở, bánh cuốn, áo dài, chợ quê…mà tiếng Anh không có từ tương ứng. Có những sự vật mà ở ngôn ngữ này có một từ, ngôn ngữ kia lại có nhiều từ biểu thị.
Thí dụ, tiếng Việt có các từ giặt, rửa, vo, gội…cả bốn từ này tương đương với một từ tiếng Anh là Wash, tiếng Việt có một từ xanh, tiếng Anh lại có hai từ cùng chỉ màu xanh là green và blue. Kết luận: Nghĩa biểu vật là một phạm trù của ngôn ngữ, là kết quả của sự ngôn ngữ hóa các sự vật ngoài ngôn ngữ. Nghĩa biểu niệm Nghĩa biểu niệm còn gọi là nghĩa sở biểu. Nếu quan hệ giữa nghĩa biểu vật với sự vật mang tính võ đoán, không giải thích được lý do thì quan hệ giữa nghĩa biểu niệm với nghĩa biểu vật mang tính có lý do.
(Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, tr. Tuyệt đại đa số các từ, giữa tên gọi với sự vật làm thành nghĩa biểu vật của chúng hoàn toàn không có mối quan hệ tiền ước nào, dùng tên gọi này chỉ sự vật này đều do quy ước, thỏa thuận. Nhưng quan hệ giữa nghĩa biểu vật với nghĩa biểu niệm là có lí do. 9 Tác giả Đỗ Hữu Châu chỉ ra rằng: “Nghĩa biểu niệm của từ là hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ, là sự ngôn ngữ hóa các khái niệm về sự vật.
Đó là nghĩa quan hệ giữa các nghĩa biểu niệm trong từ vựng một ngôn ngữ quy định” (Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tr. Như vậy, nếu nghĩa biểu vật là sự ngôn ngữ hóa sự vật ngoài ngôn ngữ thì nghĩa biểu niệm là sự ngôn ngữ hóa khái niệm về sự vật. Nghĩa biểu niệm còn do quan hệ hệ thống trong từ vựng của một ngôn ngữ mà có. Chẳng hạn, ở câu Chim là loài động vật biết bay, có lông vũ, mỏ, cánh, đẻ trứng, …tất cả các đặc trưng, tính chất của cái gọi là chim này đã phân biệt chim với các động vật khác (ong, sâu, bướm, dơi …) được gọi là nghĩa sở biểu, nghĩa biểu niệm của từ chim.
Cấu trúc nghĩa biểu niệm kết hợp thành nghĩa biểu niệm. Đó là một cấu trúc do các nét nghĩa (semantic featuares) còn gọi là nghĩa tố (seme), yếu tố ngữ nghĩa nhỏ hơn cấu thành. Các nét nghĩa này một phần phản ánh các thuộc tính của sự vật ngoài ngôn ngữ, một phần do cấu trúc ngôn ngữ quy định. Ví dụ nghĩa biểu niệm của từ đi một phần phản ánh các thuộc tính của hoạt động đi, một phần chịu sự quy định về nghĩa biểu niệm của các từ chạy, nhảy, bò, bơi, lăn…; nghĩa biểu niệm của từ mắt một phần phản ánh các thuộc tính của bộ phận mắt, một phần chịu sự quy định về nghĩa biểu niệm của các từ mũi, miệng, tai, trán…Hay nghĩa biểu niệm của từ chim là một cấu trúc bao gồm các nét nghĩa: loài động vật có xương sống, biết bay,có lông vũ, mỏ, cánh, đẻ trứng…, những nét nghĩa này vừa phản ánh những đặc điểm của chim vừa chịu sự câu thúc về nghĩa biểu niệm của các từ chỉ các động vật cũng biết bay như ong, bướm, dơi… Trong các nét nghĩa biểu niệm có những nét nghĩa chung, có mặt trong nhiều từ và những nét nghĩa riêng chỉ có ở từng từ.
Dựa vào sự đối chiếu những nét nghĩa chung này ta sẽ tìm ra được nghĩa biểu niệm của từng từ. Như vậy: nghĩa, ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định giữa các nét nghĩa và những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ. Nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu vật hợp lại làm nên nghĩa biểu hiện-nghĩa miêu tả của từ, là bộ phận lõi trung tâm, cơ bản của nghĩa từ.
Bộ phận này vừa có tính khách quan, gắn với đối tượng trong thực tế khách quan vừa có tính chủ quan, mang đặc trưng văn hóa tư duy riêng của từng dân tộc. Trong từ điển, hai bộ phận nghĩa này thường được nêu đầu tiên theo nguyên tắc lý thuyết điển dạng đã nêu ở trên.