Khóa luận tốt nghiệp: Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Khóa luận tốt nghiệp phân tích tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Bộ luật Hình sự 2015, làm rõ quy định và thực tiễn áp dụng.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

7. Bố cục bài khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1.1.1. Khái niệm về bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1.2. Lịch sử pháp luật về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong Bộ luật

1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành

1.2.2. Giai đoạn từ khi Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành đến trước Bộ luật Hình sự năm 1999 được ban hành

1.2.3. Giai đoạn từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 được ban hành đến trước Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành

1.3. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1.3.1. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định của Trung Quốc

1.3.2. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định của pháp luật Liên bang Nga

1.3.3. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo pháp luật Tây Ban Nha

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

2.1. Các dấu hiệu định tội của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.1.1. Dấu hiệu khách thể tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.1.2. Dấu hiệu chủ thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.1.3. Dấu hiệu mặt khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.1.4. Dấu hiệu mặt chủ quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.2. Hình phạt của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.2.1. Quy định về hình phạt cơ bản

2.2.2. Quy định về hình phạt bổ sung

2.2.3. Quy định về hình phạt tăng nặng thứ hai

2.2.4. Quy định về hình phạt bổ sung của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

2.3. Phân biệt tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật với một số tội khác trong Bộ luật Hình sự 2015

2.3.1. Phân biệt tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

2.3.2. Phân biệt tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật với dùng chức vụ quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT, NGUYÊN NHÂN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật hình sự 2015 về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

3.2. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

3.2.1. Nguyên nhân khách quan

3.2.2. Nguyên nhân chủ quan

3.3. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp khác đảm bảo áp dụng đúng quy định Bộ luật hình sự đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

3.3.1. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật

3.3.2. Kiến nghị giải pháp khác đảm bảo áp dụng đúng quy định pháp luật

3.4. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tội bắt giữ người trái pháp luật

Tội bắt giữ người trái pháp luật là một trong những tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến quyền tự do thân thể của con người. Theo Bộ luật Hình sự 2015, hành vi này được quy định tại Điều 157, nhằm bảo vệ quyền con người và ngăn chặn các hành vi tùy tiện bắt giữ không có căn cứ pháp lý. Tội bắt giữ người trái pháp luật được hiểu là việc một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người khác mà không tuân thủ các quy định của pháp luật. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền tự do cá nhân mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội và pháp lý.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý

Khái niệm về tội bắt giữ người trái pháp luật được xác định là hành vi bắt, giữ hoặc giam người mà không có sự cho phép của pháp luật. Đặc điểm pháp lý của tội này bao gồm việc xâm phạm đến quyền tự do thân thể, một quyền cơ bản được Hiến pháp và các văn bản pháp luật quốc tế bảo vệ. Bộ luật Hình sự 2015 đã cụ thể hóa các yếu tố cấu thành tội phạm này, bao gồm mặt khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể. Hành vi này được coi là tội phạm hình sự khi có đủ các yếu tố cấu thành theo quy định của pháp luật.

1.2. Quy định pháp luật về bắt giữ người

Quy định pháp luật về bắt giữ người được nêu rõ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cụ thể tại các Điều 110, 111, 112 và 113. Theo đó, chỉ có các cơ quan có thẩm quyền mới được phép bắt, giữ hoặc giam người trong các trường hợp cụ thể như bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, hoặc bắt để tạm giam. Việc bắt giữ người trái pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền con người.

II. Giam giữ người trái pháp luật

Giam giữ người trái pháp luật là hành vi nhốt hoặc giữ người khác trong một không gian nhất định mà không có sự cho phép của pháp luật. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền tự do thân thể mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt tâm lý và xã hội. Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định rõ các hình phạt đối với tội này, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung, nhằm răn đe và ngăn chặn các hành vi vi phạm.

2.1. Các yếu tố cấu thành tội giam giữ người trái pháp luật

Các yếu tố cấu thành tội giam giữ người trái pháp luật bao gồm mặt khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể. Mặt khách quan của tội này là hành vi nhốt hoặc giữ người khác mà không có căn cứ pháp lý. Mặt chủ quan là lỗi cố ý, tức là người phạm tội biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Chủ thể của tội này là bất kỳ cá nhân nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Khách thể là quyền tự do thân thể của con người, được pháp luật bảo vệ.

2.2. Hình phạt cho tội giam giữ người trái pháp luật

Hình phạt cho tội giam giữ người trái pháp luật được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc quản chế. Các hình phạt này nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và ngăn chặn các hành vi tái phạm.

III. Phân tích tội phạm bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật

Phân tích tội phạm bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật là một phần quan trọng trong việc hiểu rõ các quy định của Bộ luật Hình sự 2015. Tội phạm này không chỉ xâm phạm đến quyền tự do thân thể mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội và pháp lý. Việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, cũng như các quy định pháp luật liên quan, giúp nâng cao nhận thức về tội phạm này và đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách chính xác.

3.1. Các điều khoản liên quan trong Bộ luật Hình sự 2015

Các điều khoản liên quan trong Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm Điều 157, quy định về tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật. Ngoài ra, các quy định về hình phạt, trách nhiệm hình sự và các biện pháp xử lý cũng được nêu rõ trong các điều khoản khác của Bộ luật. Việc hiểu rõ các điều khoản này giúp đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách chính xác và hiệu quả.

3.2. Nguyên tắc pháp chế trong xử lý tội phạm

Nguyên tắc pháp chế trong xử lý tội phạm là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Theo nguyên tắc này, mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, không có sự tùy tiện hay thiên vị. Việc áp dụng nguyên tắc này trong xử lý tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật giúp đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1:NHỮNG VAN DE CHUNG VE TOI BAT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRAI PHÁP LUAT 1.1 Khái niệm, đặc diem pháp lý tội bat, giứ hoặc giam người trái pháp luật 1.1 Khái uiệm về bắt, giit hoặc giam người trái pháp luật Hiên nay quyền con người, nhất là quyên tự do di lại, quyền bat khả xâm phạm về thân thê luôn được chú trọng dé cao và được pháp luật quốc gia cũng nh pháp luật quốc tế bảo vệ. Tiểu biểu có thể kế đến Tuyên ngôn thé giới về quyên con người của Liên hợp quốc năm 1984 đã nói về quyền con người, hay cụ thé hơn là trong Tuyên ngôn độc lap của Mỹ nam 1776 đã nói về quyên con người bao gồm có “các quyên sống quyển tự do và quyền mưu câu hạnh phúc” hay trong văn bản Hiến pháp năm 1791 của Pháp cũng đã ghi nhận những quyền tự do của con người là “quyên tự đo, sở hữu, được an toàn và chéng lại áp bức”. Có thé thay rằng, việc bão vệ quyền con người đã xuật hiện xuyên suốt trong quá trình gây dung pháp luật niên tảng trên thé giới. Trải qua nhiêu biến động nhiều thăng tram của lich sử, nhiều lần phủ nhận và công nhận thi những quyền lợi này van được bảo vệ cho đến ngày nay.

Chính từ sự ghi nhận rồng rai về quyên con người nay, mdi một cá nhân trên thé giới đều được hưởng quyên tự do đi lại và bat khả xâm phạm về thân thé. Không một ai có thé ding vũ lực hay sử dung bat kì biện pháp nào khác nhằm mục dich kim him, gam giữ sự tự do nay của người khác. Tai khoản 1 Điều9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 CCPR) đã khang đính rõ: “i cing có quyển tự do thân thé và an ninh thân thé. Không ai có thé bị bắt giữ hay giam cẩm độc đoán.

Không ai có thé bị tước đoạt tư do thân thé ngoại trừ những trường hop và theo những thủ tuc luật đình.” Hay tại Việt Nam, trong Hiệp pháp năm 2013 cũng đã đề cập dén ở Điều 20 về quyên bat khả xêm pham này. Vì thé, không một ai có quyền bất, gữ hoặc giam người khác lạ nêu không được pháp luật cho phép. Dé hiểu rõ một cách toàn diện nhật về “tồi bắt. giữ hoặc giam người trái pháp luật” ta cần làm rõ cụ thé từng khía cạnh liên quan đến bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

* Bắt Batla mét đông từ thể hién hành động nấm, cam, giữ lầy một chủ thé để không cho chủ thé đó có thể hoạt động tự do. Tức là, chủ thé bi “bat” sẽ bị kiêm hãm về mặt hành động không thể hoạt động, di lei theo ý muốn của mình Trong Đại từ điển tiéng Việt cũng đã giải thích về hành: động này như sau: “Bat là nắm giữ lay, không cho hoạt động te đo"1,Và hành động nay là một hành động xâm pham dén quyền bất khả xâm phạm vệ thân thể, quyền tu do di lại của con người. Vay nên, tại Việt Nam, hành động đó đã được pháp luật cụ thé hóa rất 16 rang trong những văn ban pháp luật về các trường hợp được phép bắt, giữ hoặc giam người theo luật định. Cụ thể, tại Bộ luật tô tung hình sự 2015 đã quy đính về các trường được phép bắt người theo đúng quy đính đó là: Thứ nhất, bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110); Thứ hai, bắt người pham tdi quả tang (Điều 111); Thứ ba, bắt người đang bị truy nã (Điều 112); Thứ tư, bất bị can, bị cáo dé tam giam (Điều 113).

* Giữ Giữ là một động từ được miêu tả là “làm cho ở nguyễn một chỗ không xé dich được”? tức là đùng sức lực kiểm soát, ngăn chặn su di chuyên của một cá thể, vật thé. Hành động này cũng đã xâm pham đến quyên tự do của cơn người và bi pháp luật nghiêm cam. Những cá nhân, tổ chức có thêm quyên được quy đính tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS 2015 chỉ được phép tam giữ người trong các trường hợp tại Điều 117 BLTTHS 2015 như. “Tam giữ có thé áp dung đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cap, người bị bắt trong trường hợp phạm tôi quả tang người phạm tội tự tú, đâu thủ hoặc đối với người bi bắt theo quyết định truy na.” * Giam Giam có thể được hiểu là việc bắt, nhốt người khác vào một không gian nhất định không thé ra khỏi được.

Cu thể trong Đại từ điển tiếng Việt đã giải thích ý ngiña đông từ “giam” là “bắt giữ nhốt vào một e Việc giam người khác lại đã ngăn chan hoạt đông tư do di lại của người đó, khiên người bị giam không thé di từ nơi này sang nơi khác. Tại Điều 119 BLTTHS 2015 đã quy đính các trường hợp tạm giam có thể áp dụng đôi với: Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng tôi rất nghiêm trọng, Bị can, bị cáo về tôi nghiêm trọng tôi ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hành phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp đắc biệt, Bi can, bi cáo về tội it nghiém trong ma Bộ luật hình sự quy 3 tiếng Viétnxb Văn hóa Thang tin, tr 90 *Nguyễn Như Ý (dvd biên), Bat ntigng Việt nuớ Văn hóa Thôngtn, tr 647 TNguyễn Như Ý (chủ biển), Đạt từ điển tiếng Fist nx Vin hóa Thing tin, tr.620 7 định bình phạt tù đến 02 năm nêu họ tiệp tục pham tội hoặc bỏ trên và bị bắt theo quyết đỉnh truy nã, Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dudi 36 tháng tuổi, là người giả yêu, người bi bệnh năng ma có nơi cu trú va lý lịch rõ rang thi không tam giam mà áp dung biện pháp ngăn chặn khác, có ngoại trừ các trường. hợp cụ thé. Như vay, bat, git hoặc gam đều là những hành vi trái pháp luật mang tính ép buộc, can trở sư tự do thân thé của người khác và là một loại tôi phạm nguy hiểm cho xã hôi Dé hiéu được tính chat tôi phạm trong tội bat, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đầu tiên ta cân hiểu được khái niém của tôi phạm đó “Ia hành vĩ ngig’ hiểm cho xã hồi được guy đỉnh trong Bồ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm lình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiên một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quên thông nhất, toàn vẹn lãnh thé TẾ quốc, xâm phạm chế độ chỉnh trị chế độ kinh tế, nên văn hóa.

quốc phòng. amminh, trất tự. an toàn xã hội, quyển. lợi ich hop pháp của tô chức, xâm phạm quyên con người, quyên, lot ích hop pháp của cổng dén, xâm phạmmhữmg lĩnh vực khác của trật tư pháp luật xã hội chỉ nghĩa mà theo quy đình của Bồ luật này phải bi xứ lp hình sur’.

Theo đó, tôi phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được quy dinh tại Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nghiệm hình sự thực hiện một cách có ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bão vệ Còn về tôi bat, giữ hoặc giam người trái pháp luật thi theo Thạc si Dinh Văn Qué đã bình luận: “Tội bắt, giữ hoặc giam người trải pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người không đíng quy định của pháp luật” hay theo Tiên si Trương Quang Vinh định ghia: “Tổi bat, giữ hoặc giam người trải pháp luật là trường hợp bắt, giữ hoặc giam người khác trái với quy định hiện hành về bắt, giữ hoặc giam người "£ Như vậy, ca hei định nghiia trên đều tương tự như nhau ở tính trái pháp luật của hành vi phạm tội. Kết hợp khái niêm tôi pham và những định nghiia ở trên, ta có thể hiểu một cách ngắn gọn: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hank vỉ nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có nang ire TNHS thực hiệu, + Bộ hật hình sự 2015 ,nxb Công an Nhân din, Điều $ *ThS Dinh Vin Qué, Binh luân khoa học BLHS Các tội pheam xâm phạm quyển tự do của cổng dân, Nx 34 TP.HCM 2002,tr *TS Trương Quang Vinh, Giáo ink luật lùnh sue Viét Nem, phẩn Các tội xâm phạm quyển tự do, in chi của công dân, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005,tr 440 § xâm phạm trái pháp luật đếu quyén te do thâu thé cha ugười kháctông qua việc bắt,giit giam người không đúng qmy định của pháp luật” 1.2 Đặc điềm pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật troug Bộ lật Hình sự 2015 Từ đính nghife trên ta có thé thay tội bat, giữ hoặc giam người trái pháp luật có các đặc diém pháp ly sau đây: Thứ whit, tội bat, giữ hoặc giam người trái pháp luật có đối tương tác động là moi cá nhân đủ là công dân của bat kì quốc gia nao cũng đều có quyền được hưởng quyền con người, được quyên tư do đi lại, tự do vệ than thé của minh Thứ hai, tội bat, gữ hoặc giam người trái pháp luật thuộc nhóm tôi pham xâm phạm quyên tự do của con người, quyên tự do con người, quyền tu do, dân chủ của công dan đã được quy định tại Điều 157 BLHS năm 2015. Hành vi này gây ra sự hạn chế về quyên tư do mà đáng lễ con người được hưởng ngăn cả ý muốn, nhu cầu của người bi hai và thâm chí là gây ra những tổn thương về tâm lí, ám ảnh cho nạn nhân trong thời gian bi gam, giữ. Thit ba, tôi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi trái pháp luật hình sự và gây nguy hiểm cho xã hội.

Tinh trái pháp luật thé hiện rõ ở chỗ hanh vi phạm tội đó được quy đính trong BLHS. Tức 1a, hành vi nay đã co đây đủ dâu hiệu của muột câu thanh tội phạm cụ thể trong BLHS. Và đắc biệt, tội bắt, giữ hoặc gam người thé hiện tính trái pháp luật ở hanh vi bất, giữ hoặc giam trái với ý muốn của nạn nhân, xâm phạm. đến quyên tự do của cơn người, quyền tự do, dan chủ của công dân.

Ngoài việc cản trở quyên tự do về thân thé của nạn nhân, hành vi nay còn dé lại những hệ luy nhu làm nan nhân bị ám ảnh về tâm lí, lam ảnh hưởng đền công việc và cuộc sóng sinh hoạt thường ngày của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phân tích tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật trong Bộ luật Hình sự 2015" cung cấp cái nhìn chi tiết về các quy định pháp lý liên quan đến hành vi bắt giữ hoặc giam người trái phép, đồng thời phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, hình phạt và thực tiễn áp dụng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực hình sự, giúp hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình tố tụng.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nghiên cứu sâu về chế định đồng phạm trong Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Khoá luận tốt nghiệp thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh hải dương cung cấp góc nhìn thực tiễn về các thủ tục tố tụng hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự từ thực tiễn toà án nhân dân thành phố cao bằng giúp hiểu rõ hơn về quy trình thu thập chứng cứ, một yếu tố quan trọng trong tố tụng.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mang đến góc nhìn đa chiều, giúp bạn hiểu sâu hơn về các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng.