Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH I. KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH HANH CHÍNH 1. Quan niệm về quyết định hành chính ‘Theo học thuyết Mác - Lênin, Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt được sinh ra trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định với mục đích duy trì trật. tự và thúc đẩy xã hội phát triển.
Để thực hiện sứ mệnh đó, Nhà nước tiến hành nhiều hoạt động khác nhau ma đặc trưng là những hoạt động mang tính quyền lực nha nước. Các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước được thể hiện dưới nhiều hình thức, rõ rệt nhất là hoạt động. ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định pháp luật. Bang việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định.
pháp luật, Nhà nước quản lý nền kinh tế; thiết lập, bao vệ trật tự và công bằng xã hội; quy định và bảo đảm thực hiện các quyển và tự do của công dân; tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Các quyết định pháp luật được các chủ thể có thẩm quyển ban hành trong quá trình tổ chức thực hiện chức 7 nang, nhiệm vụ, quyển han mà pháp luật quy dịnh Quyết định pháp luật đa dạng cả về chủ thể ban hành, thủ tục ban hành, hình thức, nội dung, tính chất, yêu cầu cu thể đối với từng nhóm quyết định. Vì vậy, trong khoa học pháp Ìý thường có nhiều cách phân chia quyết định pháp luật nói chung thành các nhóm khác nhau Một trong những cách phân chia đó là dựa vào mục dích sử dụng quyền lực nhà nước khi ban hành quyết định pháp luật. Theo đó, quyết định pháp luật được chia thành quyết định lập pháp, quyết định hành chính và quyết định tư pháp.
Quyết định lập pháp là quyết định pháp luật được ban hành để thực hiện quyển lập pháp. Quyết định hành chính là quyết định pháp luật được ban hành để thực hiện quyển hành pháp. -Quyết định tư pháp là quyết định pháp luật được ban hành để thực hiện quyền tư pháp. Như vậy, theo sự phân công thực hiện quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, mỗi nhóm quyết định chủ yếu được ban hành bởi một loại cơ quan nhất định phù hợp với chức năng của các cơ quan đó.
Trong đó, quyết định hành chính chủ yếu được ban hành. bởi cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước, hay còn gọi là cơ quan hành chính nhà nước. Cùng với cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan quyển lực, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát cũng có quyển ban hành quyết. định hành chính.
Tuy nhiên, vì không có chức năng quản lý hành chính nên các cơ quan đó chỉ ban hành quyết định hành chính với số lượng ít, phạm vi hẹp, hầu như không tác động trực tiếp tới các lĩnh vực khác nhau trong. Thông thường, đó là các quyết định mang tính nội bộ. Ngược lại, cơ quan hành chính là cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước nên các cơ quan này ban hành rất nhiều quyết định hành chính trong quá trình hoạt động để thực hiện chức năng của mình. Các quyết inh hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ban hành phản ánh day đủ, rõ rang những tính chất, đặc điểm, yêu cầu của quản lý hành chính trong từng lĩnh vực, từng thời kỳ cụ thể.
Quyết định hành chính không phải là để tài mới mẻ trong khoa học và thực tiễn pháp lý. Khái niệm này đã được nghiên cứu và sử dụng với phạm vi, mức độ, mục đích khác nhau và vì vậy cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quyết định hành chính. Dưới góc độ hình thức biểu hiện, có hai quan niệm về quyết định hành chính: một la, quyết định hành chính gồm quyết định bằng văn bản, quyết định bằng lời nói, dấu hiệu, ký hiệu; hơi là, quyết định hành chính chỉ là các quyết định bằng văn bản. Quan niệm quyết định hành chính có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản, lời nói, dấu hiệu, ký hiệu xuất phát từ việc cho rằng quyết định.
là "định ra, dé ra vd dứt khoát phải làm" hoặc là "điều định ra, dé ra của cấp trên phải thực hiện"'. Theo đó, điều kiện cần và đủ của một quyết định là tính bắt buộc và tính quyển lực nhà nước. Hầu hết, các giáo trình 1. Nguyễn Như Ý (chủ biên): Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nb, Giáo dục, Ha Nội, 1995, tr.
Luật hành chính Việt Nam đều cho rằng việc một quyết định hành chính tổn tại dưới hình thức nào (văn bản hay không phải văn bản) chỉ là cách thức thể hiện nội dung của quyết định mà thôi. Theo quan niệm này thì sự đồng nhất khái niệm quyết định với văn bản đã thu hẹp khái niệm quyết định hành chính". Thực tế quản lý hành chính cho thấy, các quyết định hành chính không. thể hiện dưới dạng văn bản được sử dụng thường xuyên hơn các quyết định hành chính thể biện dưới dạng văn bản.
Vì hoạt động quản lý hành chính là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, trực tiếp điều hành hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nên mệnh lệnh của người quan ly có các mức độ đơn giản, phức tạp rất khác nhau và cn đưa ra rất nhiều quyết định hành chính. Nếu tất cả các quyết định hành chính đều được văn bản hóa thì hoạt động quản lý sẽ cứng nhắc, phức tạp và nhiều trường hợp sẽ rất chậm trễ. Các quyết định hành chính không thể hiện dưới dạng văn bản đã tạo nên sự sống động, linh hoạt cần thiết của quản lý hành chính nhà nước. Việc coi quyết định hành chính chỉ biểu hiện dưới dạng văn bản, là "hành vi mang tinh chất pháp lý của một người, một cơ quan, một tổ chức có thẩm quyền quyết định một uiệc, một uấn dé bằng cách ra một uăn bản 1.
Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trình Luật hành chính vd tài phần hành chính Việt Nam, Nxb. Giáo duc, Hà Nội, 2006, tr181; Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, 7.391 10 pháp quy hay uăn bản cá biệt” có cơ sở là các vấn để, các mệnh lệnh quan trọng trong quản lý nhà nước luôn được thể hiện đưới dang văn bản. Sở di văn bản được sử dụng để ghi nhận, quy định những vấn để quan trọng vì tính rõ ràng, xác định về nội dung, là cơ sở chắc chắn cho các hoạt động phục tùng, thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhất là khi quyết định có phạm vi đối tượng tác động rộng và sự tác động cần được duy trì trong thời gian dài.
Đồng thời, thủ tục ban hành. các văn bản trong quản lý nhà nước chặt chẽ, có khả năng bảo đảm độ đúng đắn cần thiết cho các quyết định được ban hành. Các quy định của pháp luật và thực tiễn pháp lý cũng chứng minh sự cần thiết phải dùng quyết định bằng văn bản trong những trường hợp quản lý quan. Chẳng hạn, trước kia, Điều 12 Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính năm 1995 quy định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt cảnh cáo có thể “được quyết định bằng uăn bản hoặc bằng hình thức khác", trong khi xử phạt bằng hình thức phạt tiền (bình thức xử phạt nghiêm khắc hơn hình thức xử phạt cảnh cáo) bắt buộc phải sử dụng quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng văn bản.
Mặc dù, pháp luật quy định có thể sử dụng hình thức khác để xử phạt khi áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo nhưng thực tế hoạt g nay cũng chỉ được thể hiện dưới dạng quyết định bằng văn bản vì việc cảnh cáo bằng miệng tổ ra ít giá trị. Chính vì vậy, 1. Doan Trọng Truyến: Từ điển Pháp - Việt pháp luật hành chính, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1992, tr.
" Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định mọi trường hợp xử phạt vi phạm hành chính phải thể hiện bằng văn bản. Quy định của pháp luật và thực tiễn pháp lý nói trên cho thấy ưu điểm của hình thức quyết định bằng văn bản và quyết định không thể hiện bằng văn bản. Nếu như quyết định bằng lời nói, dấu hiệu, ký hiệu phù hợp với yêu cầu sống động, linh hoạt của quản lý thì quyết định bằng văn bản lại phù hợp với tính khuôn mẫu, tính có căn cứ chắc chắn, tạo nên sự ổn định của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Dưới góc độ tính chất cũng có những cách nhìn nhận.
khác nhau về quyết định hành chính: quyết định hành chính chỉ là quyết định cá biệt (quyết định áp dụng pháp luật) và quyết định hành chính không chỉ là quyết định cá biệt mà còn gồm cả quyết định quy phạm (hoặc thêm cả quyết định chủ đạo). Việc coi quyết định hành chính chi là quyết định cá biệt! thường xuất phát từ thuật ngữ quyết định hành chính được quy định trong một số văn bản pháp luật như. Luật khiếu nại năm 2011 sửa đổi, bổ sung năm 2013, Luật tố tụng hành chính năm 2010. Chẳng hạn, điểm 8 Diéu 2 Luật khiếu nại năm 2011 sửa đổi, bổ sung năm.
2013 quy định: "Quyết định hành chính là uăn bản do cơ 1. Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trink Luột hành chink vG tài phán hành chính Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.138; Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo tri hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà tr.407, 12 quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyên trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định vé một uấn dé cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lan đổi vdi một hoặc một số đôi tượng cụ thể"; hay điểm 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2013 "Quyết định hành chính là van bản do cd quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định uê một uấn để cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dung một lần đối uới một hoặc một số đối tượng cụ thể" Khái niệm quyết định hành chính nói trên không phải là khái niệm hoàn toàn mang tính khoa học mà là khái niệm mang tính quy ước và chỉ có ý nghĩa trong các văn bản đó. Tính quy ước của khái niệm này thể hiện ở chỗ: thi? nhất, bên cạnh các quyết định được gọi là quyết. định hành chính thì ngay trong các văn bản nói trên.