1, PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1.1/ Tốc độ tăng trưởng chung nền kinh tế Như chúng ta đã biết,tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Đó là mục tiêu hàng ,đầu của tất cả các nước trên thế giới,là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia. Ở nước ta ,từ năm 1986 đến nay tăng trưởng của nền kinh tế có nhiều biến động,có sự tăng trưởng liên tục và với tốc độ cao,cụ thể như sau: 1986-1990 ( đạt xấp xỉ 3,9%/năm),1991-1995(8,18%),1996-2000(6,95%),2001-2006(7,62%),2006-2010 (7,01%),2011-2015(5,88%). Tính bình quân trong cả giai đoạn 1991-2006,tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,59%/năm.
Đó là tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới ,chỉ thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của Trung Quốc trong thời gian tương ứng. Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2015 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2006 2006-2010 2010-2015 Nguồn : Tổng cục thống kê 1 Từ đồ thị trên ta thấy, giai đoạn 1986-1990 đến 1991-1995 tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế tăng đáng kể từ 3,9% đến 8,18%,có chiều đi lên rõ rệt. Tuy nhiên đến giai đoạn 1996-2000,tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều đi xuống. Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á xuất phát từ Thái Lan và lan rộng sang các nước Đông Á khác,tạo nên sự giảm sút khá mạnh về thương mại và đầu tư.
Do nguồn vốn đầu tư trực tiếp suy giảm và cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu ngày càng gay gắt gây ra những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế. Sau đó ,thời kỳ 2001-2006 nền kinh tế dần được phát triển trở lại,đưa tốc độ tăng trưởng trung bình lên 7,59%/năm. Có được sự khôi phục đó là nhờ các chương trình cải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế,tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tăng lên. Từ năm 2006-2010 tốc độ tăng trưởng có chiều hướng đi xuống ,chỉ còn 7,01%.
Nguyên nhân là do chịu tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Cho đến nay ,giai đoạn 2010-2015 đã có những biện pháp để khắc phục sự đi xuống đó,nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng bình quân của thời kì này vẫn còn khá thấp,chỉ đạt 5,88%.2/ Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành Nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9%/năm (2001-2005 ); 3,53%/năm (2006-2010), trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 3,72%; giai đoạn 2008-2010 tăng 3,09%; 3,05%/năm (2011-2015). Công nghiệp và xây dựng Nhìn chung từ năm 1991 tới nay,tốc độ tăng trưởng nhóm ngành công nghiệp và xây dựng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP của cả nền kinh tế, bình quân cả thời kì tăng 10,9%/năm,tốc độ tăng khá nhanh và liên tục. Giai đoạn 2001-2005 tăng 8,7%/năm; thời kỳ 2006-2010 tăng 6,38%/năm, và tăng 6,92%/năm giai đoạn 2011- 2015 Dịch vụ 2 Dịch vụ là khu vực phản ánh rõ nhất sự biến đổi của kinh tế Việt Nam.
Trong thời kỳ 2001-2005 tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,0%/năm. Giai đoạn 2006-2010 đạt 7,64%/năm và 6,32%/năm (2011-2015) Bảng 1: tăng trưởng toàn nền kinh tế qua các giai đoạn,% so với cùng kỳ 2001-2005 2006-2010 2011-2015 Tăng trưởng chung 6.91 Nông,lâm,thủy sản 3.05 Công nghiệp, xây dựng 8.32 Nguồn tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê Nhìn chung cả 3 khu vực đều có sự thay đổi qua mỗi thời kỳ. Trong thời kỳ 2001-2008 ,nông nghiệp gặp khó khăn do hạn hán kéo dài ,dịch cúm gia cầm lan rộng,bão lũ xảy ra liên tục…,nhưng nhờ thủy sản vẫn tăng khá nên tăng trưởng chung của nhóm ngành vẫn đạt khoảng bình quân 4%/năm. Năm 2010 gặp một số khó khăn do hạn hán ,sâu bệnh và mưa lũ tại một số địa phương nên tốc độ tăng trưởng có phần giảm sút ,chỉ còn ,1,82%/năm.
Về công nghiệp,trong thời kì 1991-2008 tốc độ tăng trưởng đạt mức cao ở một số ngành như than,da,gỗ…Và trong những năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất và lắp ráp ô tô,xe máy,thết bị máy tính,điện…đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của toàn ngành Về dịch vụ,tổng thể tăng trưởng khá cao và ổn định. Tuy nhiên,năm 2008 tốc độ tăng trưởng giảm nhẹ còn 7,37% nguyên nhân do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế.3/ Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu vào 3 Các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên.1, Đầu tư và tích lũy vốn Đầu tư và vốn là yếu tố đầu vào có vai trò quan trọng,có những tác động trực tiếp đến tăng trưởng của nền kinh tế. Về vốn: Vốn gồm có vốn sản xuất và vốn đầu tư. Trong đó vốn sản xuất được hiểu là vốn vật chất,đó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế ,gồm: nhà máy,thiết bị,máy móc,nhà xưởng… Vốn đẩu tư được hình thành từ nhều nguồn khác nhau nhưng tổng vốn đầu tư toàn xã hội phụ thuộc nhiều vào đầu tư nước ngoài và nguồn vốn đầu tư huy động chưa hợp lí vì tỉ trọng vốn dầu tư nước ngoài đã tăng lên rất nhanh trong thời kì 1990-1996 ,trong khi tỉ trọng vốn của khu vực dân cư và tư nhân lại liên tục giảm, mà đây chính là nguồn vốn có hiệu quả kinh tế cao nhất và là nguồn vốn nội lực quan trọng nhất của Việt Nam.
Vốn được đánh giá vai trò khá cao trong sự góp phần vào bước đầu của sự phát triển đất nước.2, Yếu tố lao động Lao động là một trong những yếu tố không thể thiếu của sản xuất. Lao động bao gồm những yếu tố vật chất và phi vật chất. Đó là số lượng lao động của đất nước. Về khía cạnh phi vật chất ,là vốn con người,là lao động có kỹ năng sản xuất ,lao động có thể vận hành máy móc,thiết bị phức tạp…Nhắc đến lao động là nhắc đến con người,những con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững.3,Đóng góp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế Bảng 2: số liệu về sự đống góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư, số lượng lao động và của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) 1993 – 97 1998 – 02 2003 – nay Đóng góp của L 16,02 20,00 19,07 Đóng góp của K 68,98 57,42 52,73 Đóng góp của TFP 15,00 22,58 28,20 Tỷ lệ GDP 100 100 100 Nguồn tổng cục thống kê Như vậy sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và sự đóng góp của yếu tố số lượng lao động, hai yếu tố này đã đóng góp trên ba phần tư tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Điều đó chứng tỏ, sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay. Điều đó cũng chứng tỏ, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đi theo hướng tăng trưởng về số lượng, chưa chuyển sang tăng trưởng về chất lượng, vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu.4/ Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu ra 1.1, Tiêu dùng cuối cùng Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng. Do quy mô GDP của Việt Nam còn thấp, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên dưới 70%); mức tiêu dùng bình quân đầu người trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm liên tục tăng trên 7%, gần bằng với tốc độ tăng của GDP). Tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường ngày một chiếm tỷ trọng lớn, do tốc độ tăng qua các năm gần đây liên tục tăng hai chữ số (năm 2002 tăng 11,2%, 5 năm 2003 tăng 15,2%, năm 2004 tăng 10,8%, năm 2005 tăng 11,3%, năm 2006 tăng 12,5%, năm 2007 tăng 11,4%).
Khi tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường tăng nhanh và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế thì một mặt nó hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác tạo áp lực tăng cung tiền tệ, tạo áp lực lạm phát. Bảng 3:Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng Ước tính năm 2015 Ước tính tháng 12 Ước tính tháng 12 Tổng mức Cơ cấu năm 2015 (Tỷ đồng) năm 2015 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) Tổng số 294748,4 3242866,2 100,0 109,5 Bán lẻ hàng hóa 224819,1 2469879,6 76,2 110,6 Dịch vụ lưu trú, ăn 32953,2 372244,7 11,5 105,2 uống Du lịch lữ hành 2594,3 30414,0 0,9 109,5 Dịch vụ khác 34381,8 370327,9 11,4 107,0 Nguồn: Tổng cục thống kê Cùng với tăng trưởng tiêu dùng chung thì tiêu dùng của một bộ phận dân cư đã tăng rất cao về quy mô, đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng. Cùng với xu hướng này cũng đã xuất hiện tâm lý ưa chuộng hàng hiệu, hàng ngoại, thậm chí mua bán với bất kỳ giá nào.2, Đầu tư Đầu tư không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.Từ năm 1986 đến nay,nền kinh tế nước ta có những thay đổi về chính sách và cơ chế đầu tư nên đã tạo được môi trường ngày càng lành mạnh hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh,từng bước đưa nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường,từ đó khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thời kỳ 1986-1990 tốc độ tăng trưởng đầu tư chỉ đạt bình quân là 8,7%/năm; đến nửa đầu thập niên 90 tỷ lệ này dã tăng lên 18%/năm,sau đó do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 6 1997-1998 giảm xuống đạt 1,2%/năm năm 1999.
Từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng trưởng đầu tư đã tăng trở lại và đạt bình quân 10,5%/năm. Đầu tư là một nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam.3, Chi tiêu chính phủ Các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng, trong một số trường hợp sự cắt giảm quy mô chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trường hợp khác sự gia tăng chi tiêu chính phủ lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế.