phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng phân tích tài chính và phân tích tài chính Tập đoàn CMC Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính và cải thiện thực trạng, hiệu quả hoạt động của Tập đoàn CMC 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp Việt Nam: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Hiện nay trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp Việt Nam bao gồm có các chủ thể kinh doanh sau: Kinh doanh cá thể (sole proprietorship): Là loại hình đƣợc thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý của Nhà nƣớc. Không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân.
Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của ngƣời chủ. Đồng thời khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của ngƣời chủ. Kinh doanh góp vốn (parnership): Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp.
Đối với hợp đồng phức tạp cần phải đƣợc viết tay. Một số trƣờng hợp cần có giấy phép kinh doanh. Các thành viên chính thức (general partners) có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tƣơng ứng với phần vốn góp.
Nếu nhƣ một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả. 6 Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rút vốn. Hoạt động theo hình thức này khả năng về vốn của doanh nghiệp bị hạn chế. Lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Công ty (corporation): Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các cổ đông (chủ sở hữu), hội đồng quản trị và các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phƣơng hƣớng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ đông bầu lên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông.
Việc tách rời chủ sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ƣu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn: Thứ nhất: Quyền sở hữu dễ dàng chuyển cho cổ đông mới. Thứ hai: Sự tồn tại của Công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lƣợng cổ đông. Thứ ba:Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông đóng góp vào công ty Dù tổ chức theo hình thức nào, dù quy mô lớn hay nhỏ cũng có những ƣu và nhƣợc điểm riêng. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tƣ cách là các công ty.
Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp. Mục tiêu phân tích tài chính của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có mục tiêu tồn tại và phát triển khác nhau: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. 7 Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tình hình tài chính nhằm mục tiêu: - Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp. - Định hƣớng các quyết định của ban giám đốc nhƣ: quyết định đầu tƣ, tài trợ, phân chia lợi tức, cổ phần,… - Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tƣ, phần ngân sách tiền mặt, - Là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với đơn vị chủ sở hữu: thông qua phân tích tình hình tài chính giúp họ đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành hoạt động của nhà quản trị để quyết định sử dụng hoặc bãi miễn nhà quản trị, cũng nhƣ quyết định việc phân phối kết quả kinh doanh. Đối với chủ nợ: (Ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp) mối quan tâm của họ hƣớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó họ cần chú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng nhƣ quan tâm đến lƣợng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ đƣợc hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị. Đối với nhà đầu tƣ trong tƣơng lai: Điều mà họ quan tâm đầu tiên, đó là sự an toàn của lƣợng vốn đầu tƣ, kế đó là mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn.
Vì vậy họ cần những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trƣởng của doanh nghiệp. Do đó họ thƣờng phân tích báo cáo tài chính của đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tƣ vào đơn vị hay không, đầu tƣ dƣới hình thức nào và đầu tƣ vào lĩnh vực nào. Đối với cơ quan chức năng: Nhƣ cơ quan thuế, thông qua thông tin trên báo cáo tài chính xác định các khoản nghĩa vụ đơn vị phải thực hiện đối với nhà 8 nƣớc, cơ quan thống kê tổng hợp phân tích hình thành số liệu thống kê, chỉ số thống kê,… Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tƣ, quyết định huy động vốn, quyết định về phân phối vốn, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong quản lý tài chính, nhà quản lý cần phải cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài để đƣa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, phù hợp với lợi ích của chủ sở hữu.
Vai trò phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, phân tích tài chính doanh nghiệp định kỳ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đối với quản lý doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần hiểu và đánh giá đƣợc thực trạng và hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp, giúp cho việc hoạch định kế hoạch, ra các quyết định cho tƣơng lai: - Đánh giá các quyết định đã đƣa ra trong quá khứ, căn cứ vào đó để có những điều chỉnh cần thiết - Nắm đƣợc các điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đánh giá các tiềm năng cần khai thác và các nguy cơ cần lƣu ý kiểm soát đối với hoạt động của doanh nghiệp trong tƣơng lai; - Là cơ sở quan trong cho các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, dự toán ngân quỹ (dòng tiền) của doanh nghiệp. Nội dung cơ bản phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính ở doanh nghiệp đƣợc phản ánh trên các báo cáo tài chính đồng thời đánh giá những gì đã làm đƣợc, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ sở đó 9 kiến nghị những biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu. Phân tích tài chính doanh nghiệp thƣờng sử dụng một số phƣơng pháp cơ bản sau: 1.
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Phương pháp tỷ số Phƣơng pháp tỷ số là phƣơng pháp trong đó các tỷ số đơn đƣợc sử dụng để phân tích. Các tỷ số đơn đƣợc thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Đây là phƣơng pháp truyền thống đƣợc áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính.
Phƣơng pháp này đƣợc coi là có tính hiện thực rất cao với các điều kiện áp dụng ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện. Bởi lẽ, thứ nhất: nguồn thông tin kế toán và tài chính đƣợc cải tiến và đƣợc cung cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành các tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp; Thứ hai: việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; Thứ ba: phƣơng pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Về nguyên tắc, với phƣơng pháp tỷ số, cần xác định đƣợc các ngƣỡng, các tỷ số tham chiếu.
Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu. Phương pháp so sánh Trong phân tích tài chính chủ yếu sử dụng phƣơng pháp so sánh. Khi phân tích, nhà phân tích thƣờng so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trƣớc) để nhận biết xu hƣớng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra nhà phân tích còn so sánh theo không gian (so sánh với mức trung bình của ngành) để đánh giá vị thể của doanh nghiệp trong ngành.
Trong điều kiện các tỷ số trung bình chƣa đƣợc thống kê đầy đủ và chuẩn xác thì khi phân tích các nhà 10 phân tích tài chính có thể đƣa ra các tỷ số tài chính mẫu đƣợc đánh giá là tốt hoặc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả với tình hình tài chính lành mạnh để từ đó chọn tỷ số tài chính làm thƣớc đo tiêu chuẩn để tiến hành so sánh. Phương pháp Dupont Một trong những phƣơng pháp mà đƣợc các nhà phân tích tài chính tin dùng nữa là phƣơng pháp Dupont. Với phƣơng pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết đƣợc các nguyên nhân dẫn đến các hiện tƣợng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp.