Chương 1: Phân tích bối cảnh ra đời của dự án và những trục trặc mà dự án gặp phải, từ đó nêu ra lý do cần thực hiện đề tài nghiên cứu. Chương 2: Xác định khung phân tích lợi ích-chi phí ứng dụng cho việc phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án. Chương 3: Mô tả số liệu. Trình bày cách thức xác định, thu thập số liệu và tính toán các 13 thông số cần thiết cho quá trình phân tích tài chính, kinh tế.
Chương 4: Tính toán và phân tích các kết quả. Phân tích rủi ro của dự án thông qua phân tích độ nhạy, mô phỏng Monte carlo. Phân tích tính khả thi của dự án thông qua phân tích khả năng trả nợ và phân tích phân phối. Chương 5: Qua các kết quả phân tích hiệu quả tài chính, phân tích hiệu quả kinh tế và phân tích rủi ro, phân tích phân phối, phân tích khả năng trả nợ để đưa ra kết luận và gợi ý chính sách cho dự án.
14 CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ Về mặt quy trình, thẩm định hiệu quả kinh tế của dự án sẽ được thực hiện trước. Nếu dự án có hiệu quả về mặt kinh tế thì sẽ tiếp tục thẩm định tài chính. Về mặt thực tiễn, đối với dự án trồng cao su, để tiến hành thẩm định kinh tế thì tác giả phải thu thập thông tin về giá tài chính trước sau đó mới chuyển đổi sang giá kinh tế, vì thế đề tài sẽ tiến hành thẩm tài chính trước. Phân tích tài chính Phân tích tài chính là nhìn nhận dự án trên quan điểm của những người thực hiện dự án nhằm xem xét tính khả thi của dự án về mặt tài chính để giúp họ đưa ra quyết định liệu có thực hiện dự án hay tài trợ cho dự án hay không.
Dự án có hiệu quả về mặt tài chính, thoả mãn kỳ vọng của chủ đầu tư về lợi nhuận, ngân lưu ròng đủ lớn để đảm bảo khả năng trả nợ thì dự án mới khả thi về mặt tài chính. Phân tích tài chính xem xét những ngân lưu khác nhau trên các quan điểm tổng đầu tư, chủ đầu tư và nhà tài trợ. Dựa vào phân tích dòng tiền trong suốt vòng đời dự án để ước lượng và đánh giá ngân lưu mà dự án có thể tạo ra (ngân lưu vào) và ngân lưu dự án phải chi ra (ngân lưu ra) suốt vòng đời dự án.1 Xác định lợi ích tài chính Lợi ích tài chính của dự án đến từ doanh thu từ mủ cao su trong những năm khai thác và doanh thu từ thanh lý vườn cây cao su trong năm kết thúc. Doanh thu từ mủ cao su sẽ phụ thuộc vào lượng mủ cao su khai thác và giá bán mủ cao su.
Lượng mủ cao su khai thác từng năm lại phụ thuộc vào diện tích khai thác và năng suất cho mủ. Giá bán mủ cao su là giá thế giới bởi vì mục đích của dự án trồng cao su để xuất khẩu. 15 Vào năm cuối của dự án, khi cây cao su đã già, lượng mủ khai thác sẽ có chất lượng và sản lượng thấp thì chủ đầu tư sẽ thanh lý vườn cây để trồng mới. Việc thanh lý vườn cây có thể tiến hành theo nhiều cách.
Chủ đầu tư có thể tự khai thác cây để bán gỗ hoặc có thể bán cây đứng tại vườn cho các công ty hay các cơ sở chế biến gỗ cao su. Việc bán cây đứng sẽ thuận tiện và dễ dàng hơn bởi vì các cơ sở chế biến có đầy đủ nhân lực và máy móc phục vụ cho việc khai thác, chuyên chở và xử lý vườn cây cao su. Doanh thu từ việc thanh lý vườn cây sẽ phụ thuộc vào diện tích thanh lý, mật độ cây và giá bán mỗi cây. Xác định chi phí tài chính Chi phí tài chính bao gồm chi phí đầu tư và chi phí hoạt động của dự án.
Chi đầu tư bao gồm các khoản chi phí nhân công, vật tư, phân bón, cây giống và máy thi công trong quá trình khai hoang, trồng và chăm sóc cây trong thời kỳ kiến thiết, trồng đai rừng chắn gió. Chi đầu tư còn bao gồm xây dựng nhà cửa, mua sắm máy móc và quản lý dự án. Chi phí phát sinh cho dự án trong quá khứ là chi phí chìm được bỏ qua. Đối với dự án Trồng cao su tại huyện Lệ Thuỷ thì chi phí được bỏ qua là chi phí lập và phê duyệt dự án, lập quy hoạch đất, đánh giá tác động môi trường, chuyển đổi đất trồng.
Chi phí hoạt động của dự án bao gồm các khoản chi nguyên vật liệu và nhân công trong quá trình khai thác mủ và chăm sóc cây vườn cây kinh doanh, chi phí chế biến mủ, chi phí bán hàng và thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp trong vòng đời dự án. Chi phí khấu hao và lãi vay cũng được xác định để khấu trừ khi tính thuế thu nhập 16 doanh nghiệp. Tuy nhiên, về mặt tài chính, khấu hao không phải là khoản thực chi, lãi vay chỉ là khoản chuyển giao giữa chủ đầu tư và chủ nợ nên không tính vào ngân lưu tài chính của dự án. Một điểm khác trong dự án Trồng cao su tại huyện Lệ Thuỷ là dự án được thực hiện bởi công ty của Bộ Quốc phòng, do các sỹ quan và chiến sỹ điều hành quản lý dự án.
Lương sỹ quan, chiến sỹ được trả từ ngân sách quốc phòng, nhưng chi phí quản lý dự án được Binh đoàn 15 đưa vào phần vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư dự án. Vì vậy, về mặt kế toán, chi phí quản lý dự án được đưa vào chi phí hình thành tài sản cố định để tính tổng mức đầu tư và được khấu hao. Tuy nhiên, về mặt tài chính, chi phí quản lý dự án không phải là ngân lưu tài chính vì đây không phải là khoản thực chi của dự án. Tiêu chuẩn đánh giá dự án Dự án có tính khả thi tài chính khi dự án có hiệu quả tài chính trên quan điểm tổng đầu tư (NPV dự án >0), chủ đầu tư (NPV chủ đầu tư >0) và đảm bảo các điều kiện để nhà tài trợ đồng ý tài trợ vốn cho dự án.
Có rất nhiều tiêu chuẩn được dùng để đánh giá hiệu quả của dự án về mặt tài chính hiện được sử dụng là giá trị hiện tại ròng (NPV), suất sinh lợi nội tại (IRR), tỉ số lợi ích- chi phí (B/C) và tiêu chuẩn về thời gian hoàn vốn. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đánh giá dự án trong phân tích tài chính cũng như kinh tế được chấp thuận và sử dụng rộng rãi hiện nay, nó cho kết quả đánh giá tốt, đáng tin cậy hơn so với các tiêu chuẩn khác đó là NPV. Bên cạnh tiêu chuẩn NPV, tiêu chuẩn suất sinh lợi nội tại (IRR) cũng thường được sử dụng song song với NPV để giúp cho kết quả đánh giá thêm phần trực quan hơn. Phần phân tích tài chính cần trả lời các câu hỏi liên quan đến triển vọng tài chính và khả năng thành công của dự án như nguồn tài trợ có đặc điểm riêng biệt gì? ngân lưu ròng tối thiểu có đủ lớn để đảm bảo khả năng trả nợ làm cho dự án khả thi về mặt tài 17 chính hay không? Ở phần này, tác giả sử dụng tiêu chuẩn hệ số an toàn trả nợ hàng năm để phân tích khả năng trả nợ của dự án.1 Giá trị hiện tại ròng (NPV) Trong quá trình thực hiện một dự án đầu tư, lợi ích và chi phí sẽ phát sinh xuyên suốt vòng đời dự án.
Bởi vì một đồng tiền ở thời điểm hiện tại có giá trị cao hơn một đồng trong tương lai nên chi phí và lợi ích ở những thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau. Vì vậy, để đánh giá dự án ta phải quy dòng ngân lưu ròng của dự án về thời điểm hiện tại bằng công thức tính NPV. Công thức để tính NPV: Trong đó: Bt: lợi ích ở năm t Ct: chi phí ở năm t r: suất chiết khấu Suất chiết khấu dùng để tính toán NPV tài chính là chi phí vốn bình quân trọng số (WACC) của chi phí nợ vay và chi phí vốn chủ sở hữu với trọng số bằng tỷ lệ nợ vay và vốn chủ sở hữu trong tổng mức đầu tư dự án. WACC = , trong đó : rE là chi phí vốn chủ sử hữu, rD là chi phí nợ vay, E là giá trị vốn chủ sở hữu và D là giá trị nợ vay 2.
Suất sinh lợi nội tại (IRR) 18 Suất sinh lợi nội tại là con số được tính bằng tỷ lệ % để tóm tắt khả năng sinh lời của một dự án. Cách tìm IRR ngược lại với cách tính NPV, khi tính NPV người ta đưa suất chiết khấu của dự án vào để quy dòng lợi ích – chi phí về hiện tại. Khi tìm IRR, thay vì chọn suất chiết khấu thì người ta đưa NPV của chuỗi lợi ích – chi phí về bằng 0 để tìm IRR. Tuy nhiên, chỉ tiêu IRR chỉ có ý nghĩa tính toán đối với dòng tiền sau giai đoạn đầu tư âm và một giai đoạn có lợi ích ròng luôn dương.
Suất sinh lời nội tại của một dự án được tính bằng cách giải phương trình tìm IRR sao cho : 2. Hệ số an toàn trả nợ Hệ số an toàn trả nợ (DSCR) hàng năm được định nghĩa bằng tiền mặt sẵn có để trả nợ chia cho nợ phải trả trong năm đó. Ngân lưu tự do của dự án chính là ngân lưu sẵn có để trả nợ. Các nhà tài trợ thường yêu cầu hệ số DSCR hàng năm phải lớn hơn 1, hệ số này càng cao thì khả năng trả nợ càng được đảm bảo.2 Phân tích kinh tế Nếu phân tích tài chính đánh giá các khoản mục phát sinh ra các khoản chi tiêu bằng tiền thì phân tích kinh tế đánh giá chi phí cơ hội của các nguồn lực được sử dụng và tạo ra từ dự án, nếu chủ thể thực hiện dự án có thể không phải trả tiền cho việc sử dụng một nguồn lực nào đó thì không có nghĩa là nguồn lực đó là hoàn toàn miễn phí.
Phân tích kinh tế là công cụ để đánh giá sự đóng góp của dự án đối với nền kinh tế. Giá trị của hàng hóa được sản xuất từ dự án hay nguồn lực nào được sử dụng được tính bằng giá trị mà nó đóng góp cho sự thịnh vượng của quốc gia.