Chương I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Khái niệm cho vay Theo điều 16 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Cho vay có thể được chia làm 3 loại Cho vay thương mại nghĩa là cho vay trưc tiếp với khách hàng giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng: ban đầu thì các NHTM không phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng vì các NHTM tin rằng các khoản vay này có tính rủi ro cao, tuy nhiên sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng đến người tiêu dùng là khách hàng tiềm năng.
Ngày nay cho vay tiêu dùng dã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các quốc gia đang phát triển Tài trợ dự án: các NHTM có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn để tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển các ngành công nghệ cao hoặc đầu tư vào bất động sản. Các hình thức cho vay chủ yếu Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Việc áp dụng từng loại cho vay tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn vay nhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả, phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của từng đối tượng tín dụng Căn cứ vào thời hạn cho vay: Miting INTHAVONGSA Ngân hàng bảo hiểm K50 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Cho vay ngắn hạn: Có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp như bổ sung ngân quỹ, ứng trước tiền hàng, đáp ứng yêu cầu thanh toán. và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân, hộ gia đình.
- Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được doanh nghiệp sử dụng để mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới quy mô nhỏ có thời gian hoàn vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn chủ yếu đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn do thời hạn dài, khả năng những biến cố không dự tính được có thể xảy ra càng lớn. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: - Cho vay kinh doanh: Là loại cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân. - Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại và các hàng hoá tiêu dùng khác. Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay: - Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là khoản cho vay mà ngân hàng cung ứng với điều kiện khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
- Cho vay có bảo đảm không phải bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng, cho vay theo chỉ định của Chính Phủ. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng: Miting INTHAVONGSA Ngân hàng bảo hiểm K50 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Cho vay trực tiếp: Là tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay và trực tiếp hoàn trả nợ vay cho NHTM. - Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Căn cứ vào phương thức hoàn trả: - Cho vay trả góp: Là cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ bằng những khoản bằng nhau. - Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay mà được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận, thường áp dụng khi cho vay vốn lưu động doanh nghiệp.
- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: Là cho vay mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có ý định hoàn trả, ngân hàng không ấn định thời hạn nào, thường áp dụng với hình thức cho vay khấu chi. Những vấn đề cơ bản về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp (PTTCDN) là việc sử dụng một tập hợp khái niệm, công cụ và phương pháp cho phép để xử lý các thông tin kế toán và thông tin quản lý khác nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân PTTCDN có thể dự đoán được tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai cũng như những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải, từ đó giúp người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định tài chính.
PTTCDN với trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và có nhóm chỉ tiêu đặc trưng. Các thông tin được dùng để thực hiện PTTCDN gồm: - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả kinh doanh - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Miting INTHAVONGSA Ngân hàng bảo hiểm K50 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Thuyết minh tài chính 1. Vai trò phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay của NHTM là một trong những hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu.
Tuy nhiên, cũng đem lại những rủi ro lớn nhất. Vì thế việc PTTCDN là vô cùng cần thiết trong suốt khoảng thời gian cho vay với doanh nghiệp. Nó giúp ngân hàng giảm thiểu các rủi ro trước khi thực hiên cho vay, dự đoán được khả năng trả nợ ngắn hạn với các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn cũng như tiềm năng của doanh nghiệp trong dài hạn với các doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn. PTTCDN phải thực hiện ở tất cả các bước của quy trình cho vay: phân tích tài chính trước khi cho vay ,trong khi cho vay và thu nợ.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi theo hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kì nên NHTM không thể dựa vào tình hình tài chính tại một thời điểm để đánh giá cho cả một thời kì. Trong quá trình cho vay NHTM phải thường xuyên thực hiện PTTCDN để thấy được những thay đổi mà kịp thời ứng phó nhằm tránh rủi ro xảy ra. Thứ nhất là PTTCDN trước khi cho vay: Đây là bước quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng phân tích tài chính trong cho vay của NHTM, ảnh hưởng đến quyết định cho vay của NHTM. NHTM sẽ thực hiện PTTCDN sau khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng dựa trên các thông tin do doanh nghiệp cung cấp và thông tin bên ngoài để có được cái nhìn tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp trong những năm gần đây.
Nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả và có khả năng trả nợ tốt thì NHTM sẽ ra quyết định cho vay và ngược lại. Nếu thiếu công tác PTTCDN ở giai đoạn trước khi cho vay thì rủi ro cho NHTM sẽ rất cao, NHTM sẽ thiếu cơ sở để ra các quyết định cho vay. Thứ hai là PTTCDN trong khi cho vay: PTTCDN trong giai đoạn này giúp NHTM đánh giá sự biến động tình hình tài chính doanh nghiệp trong từng kì hoạt động. Xem xét tình hình TCDN biến động theo chiều hướng nào nhằm kịp thời có các biện pháp ứng phó trong trường hợp chiều hướng xấu thuộc về mình.
Công tác Miting INTHAVONGSA Ngân hàng bảo hiểm K50 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 PTTCDN trong khi cho vay thường được thực hiện theo định kỳ để có thể theo dõi tình hình tài chính doanh nghiệp vay vốn một cách thường xuyên và đầy đủ. Thứ ba là PTTCDN ở giai đoạn thu nợ: PTTCDN ở giai đoạn này giúp NHTM đưa ra được các phương án giải quyết , NHTM sẽ thu nợ luôn hay tiếp tục cho khách hàng sử dụng vốn, có cho vay thêm hay không, có cho gia hạn nợ hay không ( trong trường hợp nợ quá hạn ). Trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn có tình hình tài chính tốt, có tiềm năng trả nợ cao trong các thời kì tiếp theo thì NHTM sẽ xem xét đưa ra quyết định gia hạn nợ hoặc tiếp tục tài trợ cho doanh nghiệp. Như vậy PTTCDN thật sự cần thiết và quan trọng trong hoạt động cho vay.
Công tác này giúp các NHTM đưa ra được các quyết định tài chính đúng đắn nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung. Phân loại phân tích tài chính doanh nghiệp. Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu tài chính. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản đó là cần đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán.
Các chỉ tiêu so sánh bao gồm : - So sánh kì thực hiện và kì trước. - So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch - So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu chung của toàn ngành sản xuất - So sánh theo chiều dọc và so sánh theo chiều ngang. Miting INTHAVONGSA Ngân hàng bảo hiểm K50 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.