Chương I. Cơ sở lý luận về năng suất nhân tô tổng hợp Chương 2. Phương pháp nghiên cứu và xử lý dữ liệu Chương 3. Kết quả nghiên cứu Chương 4.
Kết luận và hàm ý chính sách CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TAC DONG CUA NANG SUAT NHAN TO TONG HOP (TFP) DEN TANG TRUONG KINH TE Nang suất nhân tổ tổng hợp là nhân tổ được phát hiện dựa trên cdc ly thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng, hiện nay về nội hàm của nhân tố TFP cũng tổn tại nhiều quan niệm khác nhau. Nội dung chương này sẽ làm rõ cơ sở tổn tại và tác động của nhân tố TFP đến tăng trưởng kinh tế dựa trên việc nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời lựa chọn cách tiếp cận TEP phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và nguồn số liệu ở địa phương. LÝ LUẬN CHUNG VE TANG TRUONG KINH TE 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Theo giáo trình kinh tế phát triển của Phan Thúc Huân (2006), tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PC]) trong một thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế có thê biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít về ố tuyệt đối, còn tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay châm của nền kinh tế giữa năm hay các thời kỳ. Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phan tăng, giảm quy mô của nên kinh tế (nh theo GDP hoặc GRDP), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP hoặc GRDP). Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng tăng trưởng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở quy mô, tốc độ của tăng trưởng. Còn mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế là tính quy định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác. với các hiện tượng khác. Chất lượng tăng trưởng được quy định bởi các yếu tố cấu thành và phương thức liên kết giữa các yếu tố u thành nên tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là một quá trình phức tạp chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Các nhà kinh tế học đã cố gắng tìm ra các quy luật, nguyên nhân chính tác động đến sự tăng trưởng kinh tế cũng như các cú sốc làm suy giảm kinh tế từ đó tìm ra các chính sách phù hợp để tạo động lực. tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu. Nội dung các phân tiếp theo sẽ trình bày các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, lựa chọn và vận dụng lý thuyết tăng trưởng phù hợp để tính toán và phân tích tác động của chỉ tiêu năng suất nhân tổ tông hợp đến tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế truyền thống Từ thế kỷ XVII trở về trước, nền kinh tế thế giới dường như không có tăng trưởng, khi thu nhập tăng lên thì dân số cũng gia tăng, thậm chí còn tăng nhanh hơn, do đó thu nhập bình quân đầu người luôn ở mức đủ sống. Đến thé kỷ thứ XVIII hai nền kinh tế Hà Lan và Anh đã thành công trong việc nâng cao thu nhập bình quân, dưới áp lực của gia tăng dân số và quy luật lợi tức giảm dần trong nông nghiệp, của cải được tạo ra đã tăng nhanh hơn tốc độ tăng của dân số. Trước khi trường phái kinh tế cỗ điển hình thành, một nhóm các nhà kinh tế học cũng đã nghiên cứu vẻ tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế cho rằng chỉ có lao động trong nông nghiệp mới tạo ra tăng trưởng tổng sản lượng. vả sản lượng bình quân lao động, lao động thủ công (công nghiệp chế tạo) chỉ cộng thêm vào nguyên liệu thô chính giá trị lao động của họ.
Trường phái kinh tế cô điển ra đời với sự đóng góp lớn của ba nhà kinh tế học là Adam Smith (1723 -1790), David Ricardo (1772 -1823) va Karl Marx (1818 - 1883) trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế. 10 Trong tác phẩm "Bàn về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc. gia" Adam Smith cho rằng không chỉ tích lũy vốn mà cả tiến bộ công nghệ cùng với các nhân tô xã hội và thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong. quá trình phát triển kinh tế của một nước.
David Ricardo đã phát hiện ra giới hạn nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế là nguồn tải nguyên thiên nhiên, lý thuyết tăng trưởng của Ricardo cho. rằng sự tích lũy tư bản trong các ngành công nghiệp hiện đại chính là động lực dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Theo quan niệm của Karl Marx, tăng trưởng là quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, các yếu tố tác đông đến tăng trưởng gồm đất đai, vốn, lao động, tiến bộ kỹ thuật, trong đó lao động là yếu tố quan trọng nhất, là yêu duy nhất tạo ra giá trị thang du, thang dư là nguồn gốc của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Karl Marx cũng rất đề cao yếu tố kỹ thuật, kỹ thuật là phương tiện lâu dai é tăng giá trị thăng, dư.
Mặc dù các lý thuyết kinh tế từ trước thế kỷ XX (gọi chung là tư tưởng truyền thống) còn khá mơ hồ, định tính, nhưng chúng đã tạo nên một cơ sở nền tảng cho kinh tế học nói chung và kinh tế học về tăng trưởng nói riêng, trong đó các nhà kinh tế đã phát hiện ra các nhân tổ tăng trưởng ở các góc độ quan sát khác nhau. Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes - mô hình Harrod- Domar Vào cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, lý thuyết kinh tế được xây dựng trên mô hình toán học ngày cảng phát triển và các phương pháp kinh tế học ngày cảng trở nên giống với các môn khoa học tự nhiên. Theo ngôn ngữ toán học, có thê dự báo được sản lượng của một lên kinh tế thông qua một hảm sản xuất, trong đó sản lượng là hàm của các đầu vào như đất đai, ll lao động và vốn. Dựa vào tư tưởng của Keynes về vai trò của vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế hai nhà kinh tế học Roy F.
Harrod (1900 - 1978) và Evsey Domar(1914 -1997) ở Mỹ đã đồng thời đưa ra mô hình lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn được gọi chung là mô hình Harrod-Domar. Mô hình Harrod được xây dựng với hai giả thiết sau: + Nền kinh tế là đóng và không có chính phủ + Đầu tư bằng với tiết kiệm S=I + Nền kinh tế này chỉ sản xuất duy nhất một hàng hóa và sử dụng các đầu vào là lao động (L) và vốn (K). Tỷ lệ vốn - sản lượng (c= K/Y) không thay đối. + Dân số (hay lực lượng lao động) và tiền bộ công nghệ tiết kiệm lao.
đông được giả định là gia tăng với một tốc độ cố định. Theo quan điểm của Harrod, tiết kiệm kế hoạch là phần mà cá nhân hoặc doanh nghiệp trong nên kinh tế dự kiến trích ra khỏi thu nhập trong một thời kỳ nhất định và theo một tỷ lệ nhất định. Do đó tiết kiệm là một tỷ lệ có định của thu nhập: S=sY (s: tỷ lệ tiết kiệm, Y: Tổng thu nhập quốc dân) Mặt khác, vốn sản xuất mới trong nền kinh tế được hình thành từ dau tư: KSI Goi cy la tỷ lệ vốn - sản lượng dự kiến, theo Harrod khi máy móc hoạt động hết công suất và khi không có sự tăng giảm của vốn lưu động thì c, là trung bình gia quyền của các c„ riêng lẻ của tất cả các khu vực khác nhau 12 trong nền kinh tế. Giá trị trung bình này được giả định là không đi, do đó tỷ lệ vốn - sản lượng cận biên bằng với tỷ lệ vốn - sản lượng trung bình: Suy ra: Từ đó suy ra: Ÿ_s Qw=s5=— ”"Y"% Tốc độ tăng trưởng đảm bảo được xác định bằng thương số giữa tỷ lệ tiết kiệm dự kiến và tỷ lệ vốn - sản lượng dự kiến trong nền kinh tế.
Như vậy với mô hình Harrod-Domar thích vai trò tăng trưởng chủ yếu do tích lũy vốn; không có vai trò của việc làm, thay đ ng nghệ hoặc sự thay thể yếu tô sản xuất. Mô hình tăng trưởng tân cỗ điển Mô hình tăng trưởng tân cô điền, còn được gọi là mô hình tăng trưởng Solow - Swan (hay gọi ắt là mô hình Solow), do hai nhà kinh tế học Robert Solow và Trevor Swan độc lập xây dựng dựa trên tư tưởng thị trường tự do của lý thuyết tân cỗ kết hợp với một số giả thuyết của mô hình Harrod- Domar. Nếu như mô hình Harrod-Domar nguyên bản chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và yếu tố kỹ thuật vào phương trình tăng trưởng. Đây là mô hình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế.
Trong bài nghiên cứu năm 1957 với tiêu đề "Thay đổi kỹ thuật và hàm số sản xuất tông thể" Solow đã tìm ra nhân tố kỹ thuật là nhân tố ngoại sinh có tác động đến tăng trưởng kinh tế thường được gọi là số dư Solow. 13 Nếu Q đại diện cho sản lượng, K và L đại diện cho đầu vào vốn va lao động ở dạng "vật chất" đơn vị, hảm sản xuất tổng hợp có thể được viết như sau: Q=F(K,L;) aay Biến t là thời gian xuất hiện trong F để cho phép thay đôi kỹ thuật, cụm từ "thay đổi kỹ thuật" như một cách diễn đạt viết tắt cho bất kỳ loại thay đồi nào trong chức năng sản xuất. Để thuận tiện bắt đầu với trường hợp đặc biệt của thay đổi kỹ thuật trung lập. Sự thay đổi trong chức năng sản xuất được xác định là trung tính nêu chúng không ảnh hưởng đến tỷ lệ thay thế biên mà chỉ cần tăng hoặc giảm sản lượng có thể đạt được từ các đầu vào nhất định.
Trong trường hợp đó, chức năng sản xuất có dạng đặc biệt: Q=A(0fK.L) (12) Vi phan ham hop theo thời gian và chia cho Q: QA, Fk, afb Q A’“OKQ “?ôrg Dic: ae wy =CO 222 we =ca S28 gj CR j2. We gt Có a= Aa i ae = AaK Tương đương: Ío =ÍA + Wilk TWIÍL, (13) 14 ïa chính là số dư Solow, là phần đóng góp vào tăng trưởng không được. giải thích bằng vốn và lao động.