Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án Chương 2: Nội dung đề án Chương 3: Kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Căn cứ vào Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Ngân hàng thương mại số 145/QH ngày 21/01/2019., doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân không quá 10 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 3 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 3 tỷ kíp. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân không quá 10 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 10 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 3 tỷ kíp. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội không quá 100 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 50 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 20 tỷ kíp, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 100 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 50 tỷ kíp, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp và công nghiệp là doanh nghiệp có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 200 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 100 tỷ kíp, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. 5 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại là doanh nghiệp mà có số người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu cả năm của doanh nghiệp không quá 300 tỷ kíp hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp không quá 100 tỷ kíp, nhưng không phải doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế DNNVV có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia hay các vùng miền, kể cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Các DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ.
đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng. Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau thì vai trò của DNNVV được thể hiện ở các mức độ khác nhau. Nhưng thực tế cho thấy tầm quan trọng của DNNVV ngày càng lớn khi mà phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng thể hiện thông qua số lượng doanh nghiệp, hoạt động có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia theo Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Ngân hàng thương mại số 145/QH ngày 21/01/2019. Thứ nhất, DNNVV tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp.
Thứ hai, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ tư, DNNVV thúc đẩy nền kinh tế năng động.2 Hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại Khái niệm Trong các hoạt động ngân hàng, cấp tín dụng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Tài sản giao dịch trong hình thức cấp tín dụng chủ yếu 6 dưới dạng tiền tệ.
Trong một số hình thức tín dụng như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch có thể là tài sản khác như tài sản cố định (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Theo Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Ngân hàng thương mại số 145/QH ngày 21/01/2019., “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV có thể được hiểu là việc thỏa thuận giữa ngân hàng và DNNVV, theo đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho DNNVV sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ chiết khấu, cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Nguồn tiền dùng để ngân hàng cấp tín dụng cho DNNVV đến từ hai nguồn gồm: vốn tự có của ngân hàng và nhận tiền gửi của khách hàng.
Cụ thể: Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của Tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Lào. Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Khách hàng doanh nghiệp Khách hàng doanh nghiệp là những tổ chức, công ty hoặc doanh nghiệp tiến hành giao dịch thương mại với các doanh nghiệp khác để phục vụ hoạt động kinh doanh. Đối tượng khách hàng này mua sắm với số lượng lớn để phục vụ nhu cầu cho tổ chức, doanh nghiệp của mình.
Khách hàng doanh nghiệp có thể là các công ty sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, tổ chức phi lợi nhuận, cơ quan chính phủ,. Thông thường, khi kinh doanh với khách hàng doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường áp dụng các chiến lược kinh doanh và Marketing khác so với việc tiếp cận khách hàng cá nhân, vì nhu cầu và quy mô của khách hàng doanh nghiệp thường phức tạp hơn. 7 Khách hàng doanh nghiệp còn là cầu nối giữa nhà sản xuất với nhà bán buôn, hoặc nhà bán buôn với nhà bán lẻ. Giữa họ vẫn diễn ra quá trình giao dịch hàng hóa, dịch vụ cụ thể, hàng hóa vẫn nằm trong quá trình lưu thông chứ chưa đưa vào quá trình tiêu dùng.
khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo Ủy ban Basel (2005) về giám sát ngân hàng thì“rủi ro tín dụng là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo điều khoản đã thỏa thuận”. Trong khái niệm này, sự tổn thất bởi rủi ro tín dụng bắt nguồn từ sự vi phạm của người vay hoặc đối tác. Trong đó, với hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng mặc dù xuất phát từ sự vi phạm bởi người vay, nhưng việc lựa chọn người vay có đủ thiện chí và khả năng trả nợ để có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết là công việc của ngân hàng. Do đó, sự thiếu sót, sai lầm của ngân hàng trong việc thu thập hoặc xử lý thông tin khi đánh giá, giám sát người vay lại là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng của khoản vay, có thể gọi đây là rủi ro giao dịch.
Bên cạnh đó, trong hoạt động cho vay, ngân hàng không chỉ thực hiện một giao dịch cho vay đơn lẻ mà còn thực hiện nhiều giao dịch cho vay khác. Tại một thời điểm bất kì, tất cả các khoản vay này đều có khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Vì thế, rủi ro tín dụng được tạo ra bởi tất cả các khoản vay hiện đang tồn tại trong danh mục, sẽ góp phần tạo nên rủi ro tín dụng tổng thể của ngân hàng, đây có thể gọi là rủi ro danh mục. Như vậy, rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án… và rủi ro tín dụng dẫn đến dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Rủi to tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp là những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM. 8 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất. Vai trò quan trọng nhất của tín dụng ngân hàng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DNNVV.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp duy trì được hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp phải đồng thời ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra ở các doanh nghiệp, khi đó tín dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn nhằm tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn. Nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm theo Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Ngân hàng thương mại số 145/QH ngày 21/01/2019. Thứ hai, giúp DNNVV nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.