Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Phúc Yên. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Phúc Yên. 4 CHƯ Ơ NG 1 N H Ữ N G V Ấ N Đ Ê L Ý L U Ậ N c o B Ả N V È T ÍN D Ụ N G V À H Ạ N C H É R Ủ I R O T ÍN D Ụ N G Đ Ó I V Ớ I D O A N H N G H IỆ P N H Ỏ V À V Ừ A 1.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Mỗi quốc gia đều có những điều kiện kinh tế khác nhau và có những đặc điểm riêng biệt. Và do đó sự phân loại doanh nghiệp vì thế không thống nhất ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Một doanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế của nước này được xem là doanh nghiệp nhỏ nhưng trong môi trường kinh tế của quốc gia khác thì lại là doanh nghiệp lớn.
Tương tự, tại thời điểm trong quá khứ một doanh nghiệp được coi là lớn nhưng đến nay chỉ được xét là doanh nghiệp nhỏ. Cho nên khi nói đến quy mô doanh nghiệp ta phải xác định rõ doanh nghiệp đó hoạt động ở quốc gia nào, trong thời diêm nào? Nói cách khác, khái niệm quy mô doanh nghiệp nói chung và khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi lãnh thổ quôc gia và tại những thời điểm nhất định. Tuy vậy việc đưa ra định nghĩa vê DNNVV cho riêng, mình lại đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Thực tế đã cho thấy việc định nghĩa rõ ràng và phù hợp thì các chính sách hỗ trợ đưa ra sẽ đạt hiệu quả cao.
Trên thế giới hiện nay có 3 quan điểm về tiêu thức phân loại DNNVV: Quan điểm 1: Việc đánh giá D N N VV p hải gắn với đặc điểm từng ngành, phải tính đến sổ lượng vốn và lao động thu hút được trong sản xuất kinh doanh. Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan là những nước theo quan điểm này. 5 Ở Nhật Bản, DNNVV được xác định như sau: + Doanh nghiệp sản xuất cần nhiều vốn và lao động quy định vốn đầu tư dưới 100 triệu Yên và dưới 300 lao động. + Doanh nghiệp bán lẻ: vốn đầu tư dưới 10 triệu Yên và dưới 50 lao động.
Ở Thái Lan, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có quy mô từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ có quy mô dưới 50 lao động ; Trong khi đó ở Malaysia DNNVV có vốn cố định nhỏ hcm 500.000 USD) và dưới 50 lao động. Quan điểm 2: Việc đánh giá DNNVV theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành: vốn, lao động, doanh thu. Tại Đài Loan, một nước thuộc nhóm các nước công nghiệp mới (NIC), đã phân chia DNNVV có mức vốn dưới 40 triệu Đài Tệ và thu hút dưới 50 lao động. Quan điểm 3: Việc đánh giả và phân chia D N N W dựa trên tiêu thức ngành nghề kinh doanh và số lượng lao động.
Đó là quan diêm của các nước thuộc khối EC, Hàn Quốc, Hồng Kông. Ở các nước thuộc khối EC, các doanh nghiệp có: + Dưới 9 lao động được gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ. + Từ 10 đến 99 lao động được gọi là doanh nghiệp nhỏ. + Từ 100 đến 499 lao động được gọi là doanh nghiệp vừa.
+ Các doanh nghiệp có từ 500 lao động được gọi là doanh nghiệp lớn. Tại Việt Nam, theo luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia 6 doanh nghiệp thành các loại khác nhau, trong đó dựa theo quy mô của doanh nghiệp mà người ta có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc phân chia doanh nghiệp theo quy mô như thế nào cũng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia và từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về “trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” ta có khái niệm DNNVV như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu ch í phân loại D N N V V Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động số lao động Số lao động Khu vực vốn vốn từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng trở người đến đồng đến 100 người đến 300 và thủy sản xuống xuống 200 người tỷ đồng người từ trên 10 từ ữên 20 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng trở người đến đồng đến 100 người đến 300 xây dựng xuống xuống 200 người tỷ đồng người từ ừên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III.
Thương mại và 10 người trở 10 tỷ đồng trở người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến 100 dịch vụ xuống xuống người đồng người Nguôn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ [7] Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, của địa phương trong từng giai đoạn và trong quá trình thực hiện, có thể áp dụng đồng thời cả 7 hai chi tiêu vốn và lao động bình quân hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế trong thời kỳ quá độ hay những nước kém phát triển thì các DNNVV thường chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Do đó, hoạt động và sự phát triển của các DNNVV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. - D N N W thu hút nhiều lao động và đóng góp phần lớn vào thu nhập quốc dân của đất nựớc.
Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh (phần lớn các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng.) hơn nữa các DNNVV không đòi hỏi trình độ quá cao nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu nhập đảm bảo đời sổng cho người lao động, giúp giải quyết các vấn đề xã hội của mọi quốc gia. Ngoài ra do lợi thế của các DNNVV là chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công ty, nhà xưởng, với chi phí quản lý thấp, tính năng động và linh hoạt cao, nên số DNNVV trong những năm qua phát triển khá nhanh, ngày càng chiếm tỷ trọng cao về số lượng, đóng góp phần lớn vào thu nhập quốc dân của đất nước. Theo thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư thì mỗi năm các DNNVV ở Việt Nam tạo ra khoảng 25-27% trong GDP của cả nước, 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp. - DNNVV đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thê làm được.
Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng lên. Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường các DNNVV sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng 8 mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã hội vì có những mặt hàng nguời tiêu dùng chủ có nhu cầu ít thậm chí cá biệt không thể sản xuất ở những doanh nghiệp có quy mô lớn, kỹ thụât hiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao động thủ công phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình. - DNNVV có vai trò quan trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông. Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến tiêu dùng phải qua khâu trung gian đó là khâu lưu thông.
Các doanh nghiệp lớn không thể tổ chức riêng một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của các DNNVV do lợi thế của các DNNVV rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại và thực hiện các dịch vụ bán lẻ. Các DNNVV đã giúp cho các doanh nghiệp lớn giảm được những chi phí do biến động của thị trường gây ra cho cả cung và cầu, giảm chi phí sửa chữa bảo hành, chi phí vận chuyển và bảo quản hàng hóa cho các doanh nghiệp lớn. - D N N W có vai trò đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng và thế mạnh của vùng. Do quy mô nhỏ và vừa nên các DNNVV có thể đặt văn phòng, nhà xưởng, kho bãi ở khắp mọi nơi trên đất nước, cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo, nông thôn.nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh về đất đai, tài nguyên và lao động của từng vùng nhất là các ngành nông- lâm- hải sản và ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản.Chính vì thế trong những qua Đảng ta đã rất chú trọng đến việc phát triển các DNNVV như đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam Trung Bộ và các làng nghề truyền thống.nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các địa phương.
- D N N W góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.