CHƯƠNG 1 Hoạt động tín dụng là hoạt động cốt lõi, tạo ra nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng thương mại nói chung, Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh Hậu Giang nói riêng, do đó các ngân hàng luôn chú trọng hoạt động này. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng luôn ẩn chứa những rủi ro khi khách hàng không có khả năng hoàn trả nợ hoặc hoàn trả nợ không đúng hạn. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chính vì thế, nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh Hậu Giang.
Từ đó, đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm giảm rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh Hậu Giang. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại là một hoạt động rất quan trọng đối với mỗi nền kinh tế, vì hoạt động này có ý nghĩa đối với nhiều thành phần trong nền kinh tế. Thứ nhất, mang về nguồn thu lớn cho các ngân hàng thương mại; thứ hai, giúp cho các cá nhân, tổ chức, những đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động sản xuất/kinh doanh bổ sung nguồn vốn, thực hiện đầu tư và phát triển hoạt động sản xuất/kinh doanh; thứ ba, giúp nên kinh tế được lưu thông tiền tệ, luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nới thiếu, giúp bình ổn nền kinh tế. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại luôn ẩn chứa những rủi ro nhất định, khi khách hàng vay vốn không còn điều kiện để hoàn trả nợ hoặc trả nợ chậm.
Khi rủi ro tín dụng xảy ra mất kiểm soát có thể dẫn đến ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Chính vì thế, rủi ro tín dụng luôn là vấn đề được các nhà kinh tế, các nhà quan trị ngân hàng thương mại quan tâm. Tồn tại khá nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng, theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rủi ro tín dụng là do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Mặt khác, theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, Lars và Martin (2010) cho rằng, rủi ro tín dụng là khả năng người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, gây tổn thất cho các tổ chức tín dụng. Như vậy, có thể tạm khái niệm về rủi ro tín dụng như sau: rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng có vay vốn tín dụng tại ngân hàng thương mại, nhưng khi đến hạn hoàn trả nợ vay, khách hàng không có khả năng hoặc không thanh toán nợ gốc và lãi đúng với thỏa thuận trong hợp đồng với ngân hàng thương mại.2 Phân loại rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng được phân thành 02 loại chính, bao gồm: rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân chính là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng thương mại và được được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: là rủi ro tín dụng được xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành nghề, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro này xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: là rủi ro tín dụng xuất hiện khi ngân hàng tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều tổ chức hoạt động trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. - Rủi ro giao dịch: là rủi ro tín dụng xảy ra do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt hồ sơ cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi rào giao dịch được phân chia thành: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro tín dụng có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều kiện trong hợp đồng vay vốn, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo, mức cho vay trên tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro tín dụng liên quan đến công tác quản lý các khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.3 Đo lường rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng thông thường được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay, được biểu hiện qua trạng thái nhóm nợ và các khoản vay được phân loại theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước. Theo Thông tư 15/VBHN-NHNN ngày 04/04/2019 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành “Quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ 8 chức tín dụng”, việc phân loại nợ và nợ của các ngân hàng thương mại được phân chia như sau: * Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và các tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; - Các khoản nợ quá hạn nhưng khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; - Các khoản nợ được cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ nhưng khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại còn lại.
* Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); - Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. * Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu đã được phân loại vào nhóm 2; 9 - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; - Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. * Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; - Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. * Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; - Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới.
Như vậy chất lượng các khoản vay sẽ được chia thành năm mức theo cách phân nhóm nợ với nhóm 1 là những khoản vay tốt nhất và nhóm 5 là những khoản vay xấu nhất. Rủi ro tín dụng sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng khoản vay với nhóm 1 là những khoản vay có rủi ro thấp nhất và nhóm 5 là những khoản vay có rủi ro cao nhất. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%. Các khoản nợ thuộc ba nhóm 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu và là tiêu chí để phản ánh rủi ro tín dụng.