Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về thông tin lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết TP HCM Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Các giải pháp nhằm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về vấn đề lợi nhuận, cũng như về hành vi quản trị lợi nhuận. Dựa vào những vấn đề lý thuyết nền cơ bản, chương 3 sẽ phân tích những nhân tố chính tác động đến hành vi quản trịlợi nhuận. Chương này gồm 3 phần chính. Phần đầu giới thiệu tổng quan về vấn đề lợi nhuận.
Phần thứ 2, trình bày về hành vi quản trị lợi nhuận, động cơ và cơ sở của nhà quản lý khi thực hiện hành vi này. Phần thứ ba, đề tài tập trung nghiên cứu về các phương pháp được vận dụng nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận.1 Các vấn đề cơ bản về thông tin lợi nhuận 2.1 Khái niệm về lợi nhuận và các yếu tố xác định lợi nhuận a. Theo góc độ kế toán của Chuẩn mực kế toán hiện hành – Chuẩn mực chung VAS 01 Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí.
Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí được định nghĩa như sau: - Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 -Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu b. Theo thông lệ quốc tế IAS: Theo Quy định chung về việc lập và trình bày BCTC, đưa ra các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc đánh giá kết quả hoạt động: - Thu nhập: các lợi ích kinh tế tăng lên dưới hình thức luồng thu hoặc tăng tài sản, hoặc giảm nợ dẫn tới tăng vốn chủ sở hữu (chứ không phải là các khoản tăng đóng góp của chủ sở hữu).
Thu nhập bao gồm doanh thu và các khoản thu được. - Chi phí: giảm lợi ích kinh tế dưới dạng luồng chi hoặc giảm giá trị tài sản, hoặc phát sinh nợ dẫn tới giảm vốn chủ sở hữu (chứ không phải các khoản giảm do phân chia cho các chủ sở hữu). Theo IAS 18, quy định việc hạch toán doanh thu có được từ bán hàng, cung cấp dịch vụ, cho người khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp mang lại lãi, tiền bản quyền và cổ tức. Doanh thu là luồng thu gộp các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm tăng vốn chủ sở hữu chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần.
Tóm lại, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài định hướng khái niệm lợi nhuận theo Thông lệ quốc tế, vì theo cách hiểu này, lợi nhuận mang tính chất khái quát, tiếp cận nguồn thông tin từ quốc tế, và dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu các bài nghiên cứu của những nhà kinh tế trên thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguồn hình thành của lợi nhuận: Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, do đó lợi nhuận đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: - Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và ngành sản xuất kinh doanh phụ. Lợi nhuận thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn, nhằm mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, đầu tư vào công ty liện kết.
Lãi thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính. - Những hoạt động trên đều được doanh nghiệp hoạch định từ trước, có kế hoạch, có sự chuẩn bị các hoạt động theo ý muốn. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có rất nhiều hoạt động xảy ra bất ngờ như thanh lý, nhượng bán TSCĐ, giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế, xử lý tài sản thừa thiếu chưa rõ nguyên nhân. Những hoạt động này cũng đem lại cho doanh nghiệp một khoản thu nhập, khoản thu nhập này sau khi trừ đi các chi phí cho những hoạt động bất thường này gọi là lợi nhuận từ hoạt động khác.3 Vai trò của lợi nhuận Theo Ronen và Yaari (2008) cho rằng, lợi nhuận là đối tượng cuối cùng của việc quản lý các số liệu kế toán, và trong phần này sẽ trình bày lời giải thích cho tầm quan trọng của lợi nhuận.1 Vai trò kép của kế toán: Các nghiên cứu trước đây tìm hiểu về vai trò kép của kế toán bằng cách tìm ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu.
Họ cho rằng báo cáo về lợi nhuận có mối liên kết chặt chẽ với giá hơn là dòng tiền, doanh thu, và các số liệu báo cáo tài chính khác. Vai trò quản lý của kế toán xuất phát từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 và quản lý giữa các công ty công, trong đó đặt các nhà quản lý ở vị trí của một người quản lý cho các cổ đông. Bởi vì các nhà quản lý hoạt động như các cá nhân độc lập, mục tiêu giữa các cổ đông và nhà quản lý không được đảm bảo. Đối với các cổ đông, biện pháp khắc phục là yêu cầu thông tin để theo dõi các nhà quản lý sau khi đã thực hiện, và yêu cầu cung cấp cho họ những ưu đãi gắn với lợi ích của họ trước khi thực hiện.
Theo Watt và Zimmerman (1978) cho rằng, một chức năng của báo cáo tài chính là để hạn chế quản lý, để hành động vì lợi ích của các cổ đông. Vai trò kép của kế toán cũng phần nào thể hiện tầm quan trọng của lợi nhuận. Thực tế là sẽ tập trung vào các cổ đông, và nhà quản lý sẽ bỏ qua các bên liên quan khác, chẳng hạn như nhà cung cấp, nhân viên. Mức lợi nhuận này một phần ảnh hưởng đến giá cả, lợi nhuận giảm gây ra nghi ngờ về động lực quản lý các khoản lợi nhuận từ góc độ lợi ích – chi phí.
Nói các khác, nếu trong lượng của lợi nhuận là nhỏ, sau đó các lợi ích có thể là quá nhỏ để minh họa cho các chi phí lớn hơn liên quan đến việc cung cấp các khoản lợi nhuận và quản trị lợi nhuận.2 Vai trò của lợi nhuận: Nghiên cứu cho rằng việc quản lý, không mang tính chủ sở hữu, là cho hầu hết các quyết định của công ty mang tính xung đột lợi ích giữa 2 bên. Những quyết định quản lý không nhất thiết phải trùng hợp với mong muốn của các cổ đông. Mỗi bên cần có những hành động mà cho là có lợi ích cho bản thân, mà không nhất thiết tính đến lợi ích của những người khác. Ronen và Yaari đưa ra 3 cách tiếp cận : - Theo định hướng hợp đồng chi phí - Theo phương pháp ra quyết định - Tiếp cận theo pháp luật.
Một nền tàng cơ bản của các phương pháp này là các công ty công được đặc trưng bởi quyền sở hữu tách khỏi sự kiểm soát, cổ đông sở hữu và kiểm soát quản lý. Có một xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý và cổ đông công ty, và tất cả hành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 động như có sự tương quan với việc theo đuổi lợi ích trong chi phí cơ hội. Mặc dù có sự tương quan này, nhưng mỗi phương pháp đều có sự khác biệt ở 2 khía cạnh. Các mối quan tâm trước hết là mức độ tin cậy ở lợi nhuận kế toán, các cổ đông sẽ biết được nền kinh tế thực sự của công ty mà không cần dựa vào các số liệu kế toán.
Nếu các số liệu kế toán không mang đến các thông tin mới, thì lợi nhuận không có giá trị. Điểm khác biệt thứ hai liên quan đến sức mạnh của các cổ đông ở xa khi thực hiện một quyết định. Họ có thể không có sự lựa chọn đúng đắn bởi họ không đủ quyền hạn để thực hiện. Quan điểm này ngụ ý cho rằng, ngay cả khi số liệu kế toán đưa ra các thông tin hữu ích, nhưng có thể vẫn không quan trọng bởi vì họ không có những cơ hội kinh tế.
Cách tiếp cận về hợp đồng chi phí giả định có đầy đủ kiến thức cũng như là quyền lực. Sự khác biệt chính với hai cách tiếp cận còn lại là, phương pháp ra quyết định và phương pháp tiếp cận pháp lý chính trị, là sẽ thông qua quan điểm mới, mà nguyên lý cơ bản là sự tồn tại của thông tin bất cân xứng giữa quản lý và các bên liên quan khác, với việc quản lý thông tin tốt hơn. Sự khác biệt giữa phương pháp ra quyết định và phương pháp tiếp cận pháp lý chính trị nằm trong giả định của họ về các cổ đông. Sau này, các cổ đông có sự giám sát vấn đề chặt chẽ hơn, bởi vì họ vừa không có đủ kiến thức cũng như yêu cầu về quyền lực cho nhiệm vụ này.4 Định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận: BCTC hỗ trợ cho các bên liên quan trong quá trình ra quyết định về đầu tư và phân bổ nguồn lực tài chính, do đó, các nhà quản lư thường xuyên chịu áp lực rất lớn từ các cá nhân và tổ chức từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, nhà quản lý đôi khi phải sử dụng đến các biện pháp nhằm quản trị các số liệu kế toán.