CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. LÝ THUYẾT MÔ HÌNH SCP 1. Khái quát mô hình Hình 1: Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả Mô hình SCP trong tiếng Anh gọi là: Structure-conduct-performance paradigm.Theo mô hình SCP (cấu trúc - structure, hành vi – conduct, và kế t quả - performance), các doa nh nghiệp trên thị trường có những hành vi khác nhau tùy thuộc vào vị trí của họ. Nếu họ càng thống lĩnh thị trường thì hành vi của họ càng độc lập với hành vi của các doanh nghiệp khác trên thị trường.
Tóm lại, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh với nhau tốt thì Nhà nước phải điều chỉnh cấu trúc của thị trường sao cho không doanh nghiệp nào được nắm giữ một tỉ lệ thị phần quá cao để khuynh đảo thị trường. Các trường phái nghiên cứu Khung phân tích của nghiên cứu này dựa trên lý thuyết về cấu trúc-hành vi-hiệu quả để phân tích tác động của thể chế tới hành vi, chiến lược của từng thành viên tham gia thị trường. Mô hình được giới thiệu bởi Bain (1959), đưa ra một khung phân tích hành vi và kết quả của thị trường. Khung phân tích này được tiếp tục phát triển trong nhánh nghiên cứu của Tổ chức ngành.
Cấu trúc thị trường sẽ xác định hành vi và kết quả của nó (Policonomics, 2015). Khung lý thuyết này cũng xem xét tới tác động của chính sách công như là một hệ quả tác động lớn tới cấu trúc và hành vi của các hãng, đồng thời coi các điều kiện cơ bản của cung và cầu hàng hóa cũng ảnh hưởng tới cấu trúc ngành (Panagiotou, 2006). Ý tưởng của khung nghiên cứu này như sau: Cấu trúc thị trường được định hình trước hết bởi số lượng các chủ thể kinh tế tham gia mua, bán trên thị trường. Nếu thị trường có ít người bán, thị trường sẽ có dấu hiệu độc quyền bán.
Người bán sẽ có nhiều quyền lực để áp đặt giá lên người mua. Ngược lại nếu thị trường có ít người mua, thị trường sẽ có dấu hiệu độc quyền mua. Người mua sẽ có nhiều quyền lực áp đặt giá lên người bán. Thị trường chỉ thực sự cạnh tranh khi khi có nhiều người mua và người bán.
Các rào cản gia nhập ngành, khả năng đa dạng hóa, mức độ liên kết dọc, và loại thị trường cũng ảnh hưởng đến cấu trúc thị trường. Nếu như rào cản gia nhập ngành lớn, các doanh nghiệp đang chiếm lĩnh thị trường sẽ có nhiều quyền lực áp đặt giá cao hơn mà không sợ bị đe dọa cạnh tranh bởi các doanh nghiệp mới, sẵn sàng gia nhập ngành. Ngành có liên kết dọc mạnh trong chuỗi giá trị sẽ tạo quyền lực thị trường lớn hơn cho các doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh cả chuỗi giá trị.Tuy nhiên, nếu liên kết dọc yếu, quyền lực thị trường của doanh nghiệp chiếm lĩnh cả chuỗi giá trị sẽ giảm. Hình 2: Khung phân tích Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (SCP) 2.
CÁC LOẠI CHỈ SỐ MỨC ĐỘ TẬP TRUNG 2. Khái niệm chung về đo lường mức độ tập trung của thị trường Trong nền kinh tế thị trường, tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp được xem là một trong những phương thức để sắp xếp, tổ chức lại nhằm hợp lý hóa sản xuất, để đảm bảo hiệu quả của việc sử dụng nguồn l ực trong sản xuất, kinh doanh. Như vậy, có thể thấy, tập trung kinh tế (T TKT) về cơ bản là hiện tượng tích cực và được khuyến khích trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, c ó những trường hợp sáp nhập, hợp nhất giữa các doanh nghiệp dẫn đến vị trí độc quyền hoặc tạo ra tác động làm triệt tiêu hoặc suy giảm tính cạnh tranh của thị trường.
C ụ thể, doanh nghiệp sau TTKT có thể gây tổn hại cho người tiêu dùng thông qua việc tăng, duy trì giá bán trên mức giá cạnh tranh hoặc giảm chất lượng, sản lượng dưới mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận khi doanh nghiệp đó có được một sức mạnh thị trường đáng kể. Như vậ y, TTKT chỉ bị cấm trong một số trường hợp việc TTKT dẫn tới tác động hạn chế cạnh tranh đánh kể trên thị trường liên quan. Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm soát TTKT phải hết sức thận trọng để có thể ngăn ngừa những trường hợp TTKT có tác động xấu, đồng thời không tạo ra rào cản đối với những trường hợp TTKT có tác động nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Để xác định khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đánh kể trên thị trường liên quan, pháp luật cạnh tranh đưa ra khái niệm mức độ tập trung trên thị trường như một chỉ số để dự báo tác động của việc tập trung kinh tế trên một thị trường liên quan cụ thể.
Nhìn chung, thị trường có mức độ tập trung càng cao thì áp lực cạnh tranh trực tiếp đối với doanh nghiệp hình thành sau TTKT càng thấp. Các chỉ số cơ bả n để đánh giá mức độ tập trung của thị trường bao gồm: thị phần, mức độ tích tụ thị trường (chỉ số CR) và chỉ số Herfindahl - Hirschmann Index (HHI). Chỉ số HHI (Herfindahl – Hirschmann Index) Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng đề nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao, chỉ số này được cơ quan cạnh tranh sử dụng để đánh giá mức độ độc quyền hay độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sáp nhậ p (M&A) giữa các doanh nghiệp. HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi doanh nghiệp trong toàn hệ thống.
Công thức xác định: Trong đó: + Si: Thị phần doanh nghiệp thứ i + n: Số lương doanh nghiệp trong hệ thống. Chỉ số HHI có giá trị từ 1/n đến chỉ số có giá trị thấp nhất (1/m) khi tất cả các doanh nghiệp trong thị trường đều có quy mô như nhau, và có giá trị bằng 1 trong trường hợp độc quyền. Chỉ số HHI có thể xác định bằng cách khác: HHI = 1/n +nV (2) Trong đó: + n: Số lượng doanh nghiệp trong hệ thống + V: Phương sai thống kê thị phần của các doanh nghiệp Nếu tất cả các doanh nghiệp có thị phần bằng nhau (có nghĩa là nếu cấu trúc thị � trường là hoàn toàn cân xứng, tức si = � � đối với mọi i) thì V = 0 và H =. � Nếu số lượng doanh nghiệp là không đổi, thì phương sai lớn hơn do mức độ bất đối xứng về thị phần giữa các doanh nghiệp sẽ tạo ra giá trị chỉ số cao hơn.
Ngoài 2 công thức trên, trong những trường hợp mà số lượng chính xác các doanh nghiệp cũng như quy mô của nó không thể xác định được, chỉ số số HHI được xác định thông qua vào lí thuyết phân phối, Hart (1975) chỉ số HHI được xác định bằng công thức: Trong đó η2 là hệ số biến đổi (những thay đổi có thể xảy ra của cấu trúc quy mô) của phân phối ban đầu. Thông qua chỉ số HHI, thị trường s ẽ được phân loại mức độ cạnh trang dựa trên cơ sở sau: + HHI < 0.01: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo + 0.1: Mức độ cạnh tranh cao + 0.18: Thị trường cạnh tranh trung bình + 0.18 ≤ HHI: Mức độ tập trung thị trường cao và có xu hướng độc quyền Đây là chỉ số cơ bản khi cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét đến sự thay đổi về cấu trúc thị trường xảy ra sau các hoạt động sáp nhập, hợp nhất (M&A). Pháp luật về cạnh tranh c ủa nhiều nước quy định cụ thể mức độ tập trung kinh tế thông qua chỉ số HHI trong việc rà soát các diễn biến về tập trung kinh tế.3 Tỷ lệ tập trung hóa (CR) Chỉ số tập trung thị phần nhóm (CR) là tổng thị phần của một nhóm doanh nghiệp có thị phần lớn nhất. Tính đơn giản và số lượng dữ liệu ít đã giúp cho chỉ số tập trung CR (k) trở thành một trong những chỉ số thường được dùng nhiều nhất để đo lường độ tập trung trong thực tiễn.
Chỉ số này đánh giá mức độ tập trung thị phầ n xác định liệu có rơi vào nhóm một số doanh nghiệp hay không. Chỉ số này được xác định thông qua thị phần của k doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường, công thức đo lường mức độ tập trung thị phần như sau: Trong đó: + CRk : Chỉ số tập trung (Concentration ratio) + Si: Thị phần doanh nghiệp thứ i + k: Số lượng doanh nghiệp trong nhóm Thông thường thì chỉ số này được tính dựa trên số lượng từ 03 doanh nghiệp trở lên tuỳ thuộc vào quy mô thị trường. Chỉ số tập trung có giá trị từ 0% đến 100%. Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân loại thị trường thành các dạng như sau: Cạnh tranh hoàn hảo, với tỷ lệ tập trung rất nhỏ Cạnh tranh một cách tương đối, CR3 < 65%, mức độ tập trung trung bình Độc quyền nhóm hoặc có vị trí thống lĩnh thị trường, CR3 > 65%, mức độ tập trung cao Độc quyền, CR1 xấp xỉ 100% CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 1.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG 1. Lịch sử hình thành Bắt đầu từ tháng Giêng năm 1956, khi Cục Hàng không Dân dụng được Chính phủ thành lập, đánh dấu sự ra đời của Ngành Hàng không Dâ n dụng ở Việt Nam. Vào thời điểm đó, đội ba y còn rất nhỏ, với vẻn vẹn 5 chiếc máy bay cánh quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến bay nội địa đầu tiên được khai trương vào tháng 9/1956. Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu việc mở rộng và khai thác hiệu quả nhiều tuyến bay quốc tế đến các các nước châu Á như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia và Singapore.
Vào cuối giai đoạn này, hàng không dân dụng Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO). Tháng 4 năm 1993 chính là thời điểm lịch sử khi Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) chính thức hình thành với tư cách là một tập đoàn kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của Nhà nước. Vào ngày 27/05/1996, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam được thành lập trên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng không, lấy Vietnam Airlines làm nòng cốt. Tiến trình phát triển Ngày 20/10/2002, Vietnam Airlines giới thiệu biểu tượng mới - Bông Sen Vàng, thể hiện sự phát triển của Vietnam Airlines để trở thành Hãng hàng không có tầm c ỡ và bản sắc trong khu vực và trên thế giới.