phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của DNNVV; Chƣơng II: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng III: Thực trạng và các nhân tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của DNNVV Thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. Chƣơng IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV Thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNVV 1. Các quan niệm về Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa (DNNVV) Nói đến DNNVV là nói đến cách phân loại DN dựa trên độ lớn hay qui mô của các DN.
Việc phân loại tiêu thức DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng qui định giới hạn phân loại qui mô DN. Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNNVV giữa các nƣớc chính là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá qui mô DN và lƣợng hoá các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể. Giữa các nƣớc không chỉ tiêu chuẩn của từng lọai DN có khác nhau mà ngay cách phân loại cũng khác nhau: Có những nƣớc chỉ phân ra 4 loại DN: DN nhỏ, DN vừa, DN lớn và Doanh nghiệp cực lớn (tức là các công ty đa quốc gia khổng lồ, chứ không phải mọi công ty đa quốc gia, vì có những công ty đa quốc gia chỉ thuộc loại DN lớn vừa phải). Có nƣớc phân loại DN chi tiết hơn : - DN cực nhỏ, còn gọi là vi DN ( ở một số nƣớc, đây là kinh tế hộ gia đình; ở một số nƣớc khác, kinh tế hộ gia đình không đƣợc xếp vào lọai DN mà chỉ gọi là kinh tế hộ gia đình, và do đó không có vi DN); DN nhỏ, DN vừa, DN lớn và DN cực lớn.
Có nƣớc (nhƣ Hoa Kỳ), chỉ những DNNVV độc lập thì mới là DNNVV, nhƣng cũng có nƣớc tính cả các DNNVV thành viên của các công ty lớn cũng là DNNVV. Đặc biệt tại Pháp, cùng với lọai DNNVV, còn có cả lọai ngành công nghiệp nhỏ và vừa, lọai ngành kinh tế nhỏ và vừa, tức là những ngành công nghiệp, ngành kinh tế trong đó hầu hết hoặc số lớn DN thuộc lọai nhỏ và vừa. Qua nghiên cứu tiêu thức phân loại ở các nƣớc có thể nhận thấy một số tiêu thức chung, phổ biến nhất thƣờng đƣợc sử dụng trên thế giới là: Số lao động thƣờng xuyên; vốn sản xuất hoặc tổng giá trị tài sản; doanh thu; lợi nhuận; và giá trị gia tăng. Tiêu thức về lao động và vốn phản ánh qui mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá qui mô theo kết quả đầu ra.
Mỗi tiêu thức có mặt tích cực và hạn chế riêng. Nhƣ vậy, để phân lọai DNNVV có thể dùng các yếu tố đầu vào, hoặc các yếu tố đầu ra của DN, hoặc là kết hợp của cả hai yếu tố trên. Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn đƣợc sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 phổ biến để phân loại DNNVV là số lao động và số vốn. Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều nƣớc coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn.
Nhƣ vậy, tiêu chuẩn phân lọai DN không tính đến phạm vi quan hệ của DN, trình độ công nghệ, khả năng quản lý và hiệu quả họat động của DN là điều đáng chú ý. Tiêu chuẩn phân lọai DN là không cố định và chẳng những khác nhau giữa các nƣớc mà còn thay đổi trong một nƣớc. Trƣớc hết, đó là thay đổi theo ngành nghề. Thƣờng thƣờng ở nhiều nƣớc, ngƣời ta phân biệt 3 loại ngành nghề: một là các DN chế tác, hai là các DN thƣơng mại, ba là các DN dịch vụ.
Trong mỗi loại ngành nghề có tiêu chuẩn riêng về DNNVV. Tiêu chuẩn phân loại DN không cố định mà thay đổi theo thời gian. Điều này rõ nhất là ở Mỹ, nơi cứ hàng năm tiêu chuẩn về DNNVV trong từng ngành, nghề đều đƣợc xem xét lại, điều chỉnh nếu cần thiết và đƣợc chính thức công bố. Trong lịch sử kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có rất nhiều khái niệm về DNNVV.
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia; tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nƣớc hay khu vực mà các nhà kinh tế, các chính phủ đƣa ra những khái niệm khác nhau về DNNVV. Sau đây là hai định nghĩa DNNVV của của Ngân hàng Thế giới và Nhật Bản. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty Tài Chính quốc tế (IFC), các DN đƣợc phân chia nhƣ sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro - enterprise): Là DN có đến 10 lao động, tổng tài sản trị giá không quá một trăm ngàn (100.000) USD và tổng doanh thu hàng năm không quá một trăm ngàn (100. - Doanh nghiệp nhỏ (Small-enterprise): Là DN có không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá ba triệu (3.000) USD và tổng doanh thu hàng năm không quá ba triệu (3.
- Doanh nghiệp vừa (medium- enterprise) : DN có không quá 300 lao động, tổng giá trị tài sản không quá mƣời lăm triệu (15.000) USD và tổng doanh thu hàng năm không quá mƣời lăm triệu (15. Theo điều 2, đạo luật cơ bản cho DNNVV Nhật Bản : “ (1) Một công ty có vốn hoặc tổng số tiền đầu tư không quá ba trăm triệu Yên (ұ 300.000), hay một công ty hoặc một cá nhân có số lao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 động thường xuyên không quá ba trăm người, và chủ yếu tham gia vào sản xuất, xây dựng, vận chuyển hay các loại hình kinh doanh khác (trừ các loại hình kinh doanh nêu tại điểm 2 đến 4 dưới đây); (2) Một công ty có vốn hoặc tổng số tiền đầu tư không quá một trăm triệu Yên (ұ 100.000), hay một công ty hoặc một cá nhân có số lao động thường xuyên không quá một trăm người, và chủ yếu tham gia kinh doanh bán buôn; (3) Một công ty có vốn hoặc tổng số tiền đầu tư không quá năm mươi triệu Yên (ұ 50.000), hay một công ty, hoặc một cá nhân có số lao động thường xuyên không quá một trăm người, và chủ yếu tham gia vào ngành dịch vụ; (4) Một công ty có vốn hoặc tổng số tiền đầu tư không quá năm mươi triệu Yên (ұ 50.000), hay một công ty hoặc một cá nhân có số lao động thường xuyên không quá năm mươi người, và chủ yếu tham gia kinh doanh bán lẻ. Ngoài ra, một số định nghĩa về DNNVV của một số quốc gia trong khu vực APEC cũng có một số điểm không hoàn toàn đồng nhất. Các tiêu chuẩn và cách phân lọai khác nhau do các đặc thù kinh tế xã hội của từng quốc gia và do các mục đích cụ thể trong chính sách phát triển hoặc các chính sách xã hội của mỗi nƣớc.
Hiện nay các tiêu chuẩn quốc tế để phân loại DNNVV vẫn đang tiếp tục đƣợc thảo luận vì còn nhiều ý kiến khác nhau. Đó là các tiêu thức để xác định DNNVV của một số nƣớc trên thế giới, còn đối với Việt Nam thì tiêu thức xác định DNNVV cũng thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của đất nƣớc. Ngày 20/6/1998, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành công văn số 681/CP-KTN xây dựng tiêu thức DNNVV tạm thời quy định giai đoạn này là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dƣới 200 ngƣời. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế, các tiêu thức đánh giá DNNVV cũng đƣợc nâng lên.
Ngày 23/11/2009 Chính phủ ban haàn Nghị định số 90/2001/NĐ-CP trong đó DNNVV đƣợc hiểu là “DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trunh bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 9 Để tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát triển, ngày 30/6/2009 Chính phủ ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn và tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn và tiêu chí chủ yếu đƣợc cụ thể là): Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực nhỏ Tổng Tổng Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn nguồn vốn I.Nông, lâm nghiệp 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 20 đến từ trên 200 và thủy sản xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời II.Công nghiệp và 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 20 đến từ trên 200 xây dựng xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời III.Thƣơng mại và 10 ngƣời trở 10 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 10 đến từ trên 50 đến dịch vụ xuống trở xuống 50 ngƣời 50 tỷ đồng 100 ngƣời Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 Theo tiêu chí này thì tỷ trọng các DNNVV trong khối doanh nghiệp chiếm khoảng 70% còn trong khu vực kinh tế tƣ nhân hiện có khoảng 50.000 doanh nghiệp gồm các công ty TNHH, CTCP, DNTN và hơn 2 triệu hộ kinh doanh cá thể (không kể hộ sản xuất nông nghiệp).
Theo tiêu chí vốn, các DNNVV chiếm khoảng 99,56% trong tổng số DNTN; 97,38% trong tổng số các doanh nghiệp HTX; 96,12% trong các công ty TNHH và 43,27% dối với các CTCP. Do đó, các DNNVV có một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế nƣớc ta. Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là một loại hình của doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ những đặc trƣng vốn có của doanh nghhiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những đặc trƣng đó, DNNVV còn mang những đặc điểm riêng nhƣ: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.