chương 1 Việc phân tích mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là đề tài được quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu thị trường tài chính – ngân hàng trên khắp thế giới. Từ những mô hình đơn giản nhất cho đến những mô hình phổ biến như ngày nay là cả một chặng đường dài trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, đối với từng vị trí địa lý và văn hóa khác nhau thì việc ứng dụng các mô hình là khác nhau, cũng như việc kiểm định các nhân tố trong mô hình cũng khác nhau. Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, tác giả muốn tìm ra các nhân tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cũng như mô hình nào sẽ 7 phù hợp nhất để đo lường mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ MỨC ĐỘ CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Các khái niệm liên quan “Cạnh tranh” được định nghĩa là quá trình đối đầu lẫn nhau giữa các doanh nghiệp qua thời gian, trên con đường giành lấy nhiều khách hàng hơn (Whish, 2005). Mục tiêu chính của việc này là gia tăng thị phần và đạt được nhiều lợi nhuận hơn nữa. Adam Smith (1776) đã khẳng định rằng cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách tốt nhất.
Vì thế, cạnh tranh đã khơi dậy sự nỗ lực của con người, góp phần làm tăng của cải vật chất cho nền kinh tế. Khi nghiên cứu về cạnh tranh, P. Samuelson (2000) định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”. Theo Viện nghiên cứu kinh tế trung ương (2002), cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Trọng Tài (2008), cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với nền kinh tế thị trường, chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường. Cạnh tranh tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động. Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn cố gắng tìm kiếm cho mình một chiến lược phù hợp để cạnh tranh có hiệu quả, khẳng định được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tóm lại, từ những quan điểm trên, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu cụ thể.
Tuy nhiên, không giống với các lĩnh vực kinh doanh khác, ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố về kinh tế, chính 9 trị, văn hoá, xã hội, … Ngược lại, thông qua hoạt động của mình, ngành ngân hàng cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại không chỉ cạnh tranh với nhau về sản phẩm, dịch vụ, lãi suất, chăm sóc khách hàng ,. để giành giật thị phần, tìm một vị thế trong ngành mà còn luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống. Ngoài ra, để tránh những hoạt động kinh doanh mạo hiểm của các ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh có thể gây ra những nguy cơ đổ vỡ hệ thống, nhà nước luôn can thiệp khi cần thiết nhằm phòng ngừa rủi ro cũng như điều tiết thị trường.
Nếu không có sự can thiệp của ngân hàng nhà nước trước những diễn biến bất lợi của thị trường thì hậu quả có thể dẫn đến suy sụp toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế. Hơn nữa, hoạt động của ngành ngân hàng liên quan trực tiếp đến quá trình lưu chuyển tiền tệ, ngoại tệ. Điều đó cho thấy sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán quốc tế, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, muốn kinh doanh tốt đòi hỏi các ngân hàng phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính. Từ đó có thể thấy sự cạnh tranh của ngành ngân hàng là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những yêu cầu khắt khe hơn bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào. Để một nền kinh tế phát triển bền vững thì hệ thống ngân hàng luôn phải đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh, mang lại hiệu quả cao. Vì thế, nhà nước luôn phải giám sát và điều tiết các hoạt động của ngành ngân hàng thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách, quy định về quản lý rủi ro, quản trị điều hành, chuẩn mực kế toán,.
phù hợp cho từng thời kỳ kinh tế cụ thể. Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước cũng tiến hành rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới phù 10 hợp với diễn biến của hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, bằng việc vận dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như công cụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc,. ngân hàng nhà nước kiểm soát được lượng cung tiền vào thị trường, góp phần kiểm soát tình trạng lạm phát của nền kinh tế.
Ngoài ra, ngân hàng nhà nước thường xuyên tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm soát nhằm phòng tránh, ngăn chặn cũng như giải quyết kịp thời những nguy cơ có thể làm suy sụp hệ thống, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại 2. Vốn ngân hàng (Cap) Cap đại diện cho vốn của các ngân hàng, được xác định bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu là lượng tiền mà ngân hàng phải có để hoạt động, là nguồn vốn riêng của ngân hàng do các cổ đông đóng góp và được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
Tỷ số này cho thấy tỷ lệ của nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản của ngân hàng cũng như cho thấy khả năng tự chủ tài chính của ngân hàng. Vì ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc thù với hoạt động kinh doanh chính là huy động vốn và cho vay, nên tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngành là khá thấp. Tỷ số này cũng phản ánh khả năng bù đắp tổn thất của vốn chủ sở hữu với mọi cam kết hoàn trả của ngân hàng. Theo kết quả nghiên cứu của Claessens và Laeven (2004), Delis và Pagoulatos (2009), Simpasa (2010) và Delis (2012), vốn ngân hàng có mối tương quan ngược chiều với chỉ số Lerner, điều này có nghĩa là vốn ngân hàng càng cao thì ngân hàng đó phải cạnh tranh nhiều hơn so với các ngân hàng khác.
Tuy nhiên, Bikker và Haff (2002), Turk – Ariss (2009) thì có kết quả nghiên cứu ngược lại, vốn ngân hàng càng cao thì ngân hàng đó ít phải cạnh tranh hơn so với các đối thủ trong ngành. Quy mô ngân hàng (Size) 11 Size đại diện cho quy mô của ngân hàng, được đo lường bằng cách lấy logarit của tổng tài sản. Các ngân hàng có quy mô lớn có thể tận dụng được lợi thế về chi phí cũng như sức mạnh thị trường, có nhiều cơ hội hơn trong việc gia tăng thêm các khoản mục kinh doanh bên cạnh hoạt động tín dụng nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập, tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng, đồng thời hạn chế được rủi ro do các tác động từ nền kinh tế. Đã có nhiều nghiên cứu về sự tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ canh tranh ngân hàng, tuy nhiên, có nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau.
Theo Aboagye và các cộng sự (2008), Delis và Pagoulatos (2009) và Delis (2012), quy mô ngân hàng có mối tương quan cùng chiều với chỉ số Lerner, điều này có nghĩa là quy mô ngân hàng càng lớn thì sẽ làm tăng sức mạnh thị trường, các ngân hàng không phải cạnh tranh nhiều với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, theo Fernandez de Guevara và Maudos (2007), quy mô ngân hàng càng lớn thì ngân hàng càng phải cạnh tranh nhiều so với các đối thủ trong ngành. Rủi ro tín dụng (Llp) Llp đại diện cho rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng là rủi ro khi khách hàng không có khả năng chi trả được nợ cho ngân hàng khi đến hạn phải thanh toán và được đo lường bằng tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ cho vay của ngân hàng.
Chỉ số này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng như khả năng kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nghiên cứu của Simpasa (2010) đã chỉ ra rằng, các ngân hàng có thực hiện trích lập càng nhiều chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thì sẽ cạnh tranh nhiều hơn so với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, nghiên cứu của Maudos và Fernández de Guevara (2004) đã giải thích rằng các ngân hàng càng có chi phí trích lập dự phòng càng nhiều sẽ càng có động cơ gia tăng lãi suất cho vay để bù đắp rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang phải đối mặt. Khi đó chênh lệch giữa giá và chi phí biên của ngân hàng sẽ trở nên cao hơn, điều này hàm ý rằng các ngân hàng sẽ có sức mạnh thị trường cao hơn so với các ngân hàng khác, các ngân hàng sẽ ít cạnh tranh hơn.
Hiệu quả chi phí (Eff) Eff đại diện cho hiệu quả chi phí của các ngân hàng, được xác định bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập của ngân hàng. Các ngân hàng có chi phí quản lý và công nghệ thấp hơn sẽ có lợi nhuận cao hơn, mang lại hiệu quả hoạt động cũng như gia tăng thị phần. Theo kết quả nghiên cứu của Weill (2004), các ngân hàng có chi phí hoạt động càng cao so với tổng thu nhập hoạt động thì sẽ ít cạnh tranh so với các ngân hàng khác.