CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Ngành chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi Tình hình ngành chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi vừa bị ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 vừa phải phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc và gia cầm. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bị chững lại, giá thức ăn chăn nuôi liên tục gia tăng trong khi giá bán giảm khiến người chăn nuôi gặp nhiều trở ngại kèm theo đó là nguy cơ bùng phát Dịch tả Heo Châu Phi toàn cầu [9]. Ngành chăn nuôi trong năm 2021 đối mặt với nhiều khó khăn: Do bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động đến mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu và gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Dịch bệnh trên động vật tiềm ẩn nguy cơ bùng phát,nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, xuất hiện chủng virus nguy hiểm trên đàn gia cầm (H5N6, H5N8…) và bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò. [10] Tuy nhiên, nhìn chung thì chăn nuôi đã bắt đầu phục hồi trở lại với sản lượng thức ăn chăn nuôi heo tăng hơn 6% sau 2 năm bị tàn phá vì Dịch tả Heo Châu Phi (ASF) và đặc biệt là sức tăng 14.2% tại riêng Châu Á Thái Bình Dương. Sản lượng thức ăn chăn nuôi gà thịt tăng 2% với việc một loạt các yếu tố giúp thúc đẩy sản lượng gà thịt bao gồm người dân tăng nấu ăn tại nhà trong thời kỳ đại dịch, cũng như là việc thịt gà là nguồn protein hợp túi tiền trong giai đoạn khó khăn kinh tế [9]. Trong đó, chăn nuôi gà năm 2021 là một năm khắc nghiệt với rất nhiều dịch virus nguy hiểm trên đàn gia cầm và không có nguồn cung nguyên liệu nên làm tăng giá thành thức ăn chăn nuôi mà trong khi đó giá thịt gà lại giảm mạnh khiến nhà chăn nuôi thua lỗ nặng [11].
Theo thống kê không chính thức, tại thị trường miền Bắc, số lượng các trại chăn nuôi gà thịt giảm đến 40% trong năm 2021, tuy nhiên số lượng các trại nuôi của các công ty, doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất thức ăn chăn nuôi lại tăng cả về số lượng trại và đầu con, đặc biệt là ở các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp tác – liên kết với nước ngoài [12]. Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi theo hướng quy mô công nghiệp là xu hướng phát triển trong tương lai tại Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung. Với việc phát triển quy mô theo hướng doanh nghiệp vừa để đảm bảo chất lượng thức ăn chăn nuôi đạt kết quả tốt với giá thành rẻ vừa làm giảm giá 4 thành thịt gà trên thị trường vốn đã rất khắc nghiệt tại Việt Nam trong những năm gần đây, tiến tới xu hướng xuất khẩu thịt ra thị trường toàn cầu nhằm phát triển ngành nông nghiệp, phát triển thương hiệu Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề an toàn thực phẩm khi sản xuất thức ăn chăn nuôi trên quy mô công nghiệp sẽ được đặt lên hàng đầu trong bối cảnh nguyên liệu có nhiều biến động cả về giá cả, chất lượng và phải đến 60% nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu [13] với thời gian vận chuyển và lưu kho bến bãi lâu ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu.
Tình hình dịch covid diễn biến phức tạp Tính đến 21/11/2020 dịch COVID 19 đã phủ sóng ở hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng số ca nhiễm lên tới hơn 58.000 người và có hơn 1.000 ca tử vong [14]. 1: Tổng số ca covid 19 ở 6 nước có covid 19 nhiều nhất thế giới tính tới 21/11/2020 (Nguồn: Bộ Y tế - Cục Công nghệ Thông tin) Tổng số ca mắc Tổng số ca tử vong STT Quốc gia (người) (người) 1 Mỹ 12.778 6 Tây Ban Nha 1.619 Do tình hình dịch covid diễn biến phức tạp trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nên nguồn cung thực phẩm có nguồn gốc từ thịt bị giảm đáng kể, đặc biệt là nguồn thực phẩm thịt nhập khẩu. Các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật khác như gà, bò, vịt, trứng sữa cũng bị giảm đáng kể do tình hình nguyên liệu, ngũ cốc tăng cao làm giảm số lượng đàn trong chăn nuôi. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi (ASF) Dịch tả lợn Châu Phi (ASF) bắt nguồn từ Kenya – Châu Phi (năm 1909) [15], hiện đang hoành hành ở 20 quốc gia trên thế giới (theo thống kê của Tổ chức 5 Thú y thế giới (OIE) tới 18/02/2019, trong đó nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Trung Quốc, cũng là nhà sản xuất và tiêu thụ thịt lợn lớn nhất thế giới.
1 Dịch tả heo Châu Phi “phủ sóng” 63 tỉnh thành Việt Nam đến 09/2019 Tại Việt Nam, ngày 19 tháng 02 năm 2019, Chi cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã thông báo phát hiện ổ dịch tả lợn Châu Phi đầu tiên tại tỉnh Hưng Yên và Thái Bình [16]. Ngày 5/3/2019, thông tin từ cơ quan chức năng cho biết đã có 202 hộ tại 7 tỉnh thành xuất hiện dịch, trong đó 4.200 con lợn nhiễm bệnh đã bị tiêu hủy. Tính đến ngày 26 tháng 3 năm 2019, dịch tả lợn Châu Phi đã lan rộng ra 22 tỉnh tại Việt Nam, với 91 huyện và 476 xã có dịch xảy ra bao gồm: Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên, Hòa Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thừa Thiên - Huế, Lai Châu, Bắc Giang, Quảng Trị [17]. Tính từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 22/7/2019, chỉ sau 6 tháng phát hiện, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra 6.016 xã thuộc 558 huyện của 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với số lợn tiêu hủy là 3,7 triệu con, với trọng lượng tiêu hủy là 211,5 nghìn tấn.
Tính đến ngày 19/12/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.527 xã thuộc 667 huyện của tất cả các địa phương trên cả nước với tổng số lợn tiêu hủy gần 6 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng 340,8 nghìn tấn. Tổng đàn lợn của cả nước tháng Mười Hai năm 2019 giảm khoảng 25,5% so với cùng thời điểm năm 2018 [18] 6 Và tới tháng 09 năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi đã “phủ sóng” ở khắp 63 tỉnh thành của Việt Nam. Chính các yếu tố trên làm nguồn cung thịt lợn bị hạn chế, giá thịt lợn và một số mặt hàng có nguồn gốc từ động vật tăng cao. 2: Giá 01 vài sản phẩm có nguồn gốc động vật tại miền Bắc (Nguồn: báo chăn nuôi Việt Nam) Loại thịt Đơn vị 01/2019 01/2020 11/2020 15/06/2021 Thịt lợn 45.600- VNĐ/kg lông trắng 36.000- VNĐ/kg lông màu 38.000 Trứng gà VNĐ/quả 1.
Tập quán chăn nuôi Theo số liệu chính thức Việt Nam hiện có 10,9 triệu hộ chăn nuôi gà vịt, 4 triệu hộ chăn nuôi heo và khoảng 2,5 triệu hộ chăn nuôi bò, cộng chung là gần 18 triệu hộ. Một thống kê khác cho biết có khoảng 4 triệu hộ chăn nuôi heo, 7,9 triệu hộ chăn nuôi vịt, 2,5 triệu hộ chăn nuôi bò. Quy mô chăn nuôi còn nhỏ bé, phổ biến nhất vẫn là trang trại quy mô chăn nuôi theo hộ gia đình, nên đa số hoạt động nhỏ lẻ.131,6 nghìn hộ chăn nuôi thì số quy mô nhỏ (dưới 10 con lợn/hộ) chiếm tới 86,4%, riêng số hộ quy mô siêu nhỏ (1-4 con lợn/hộ) chiếm 71,6% tổng số hộ chăn nuôi, nhưng chỉ sản xuất 43,2% tổng lượng thịt, về gia cầm, trong tổng số 7.864 nghìn hộ chăn nuôi, số hộ quy mô nhỏ (dưới 100 con gia cầm/hộ) chiếm 89,62% (riêng quy mô siêu nhỏ 1-19 con chiếm 54,39%) nhưng chỉ sản xuất 30% tổng số thịt gia cầm. [19] Hiện nay, chăn nuôi Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế như hệ thống sản xuất chưa đồng bộ làm cản trở bước tiến của ngành chăn nuôi với ba vấn đề lớn là giá thành sản phẩm, thương hiệu sản phẩm và xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm.
7 Chính vì có quá nhiều các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và công tác xúc tiến thương mại chưa cao, nên nông nghiệp Việt Nam vẫn đang còn phải đối mặt với nhiều thách thức, về tình hình an toàn vệ sinh dịch bệnh (hiện đang có dịch tả lợn Châu Phi trên lợn, dịch viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch cúm gia cầm trên gà,…), an toàn thực phẩm trong chăn nuôi, hội nhập thế giới. Vì thế nông nghiệp Việt Nam cần phát triển với chăn nuôi trang trại lớn quy mô công nghiệp và liên kết với các nhà máy thức ăn chăn nuôi để đưa ra thị trường sản phẩm thịt chất lượng cho giá thành rẻ nhất. Thống kê sản lượng thức ăn chăn nuôi cả nước 2019-2021 Sản lượng TACN giai đoạn 2019-2021 theo vùng theo bảng sau: Bảng 1. 3: Sản lượng TACN giai đoạn 2019-2021 theo vùng sinh [20] (Nguồn: Trích từ báo cáo của Cục chăn nuôi) 2019 2020 2021 STT Vùng (1.000 tấn) 1 Bắc Trung Bộ 470 541 609 Duyên hải Nam Trung 2 1.969 Bộ 3 Đông Bắc 422 499 372 Đồng bằng Sông Cửu 4 2.963 Long 5 Đồng bằng Sông Hồng 7.231 6 Đông Nam Bộ 5.438 7 Tây Bắc Bộ 191 330 308 Tổng số 18.895 Tăng trưởng (%) 0,7 7,1 7,9 Sản lượng TACN giai đoạn 2019-2021 theo loại hình doanh nghiệp và vật nuôi theo bảng sau: 8 Bảng 1.
4: Sản lượng TACN giai đoạn 2019-2021 theo loại hình doanh nghiệp và vật nuôi (Nguồn: Trích từ báo cáo của Cục Chăn nuôi) Loại hình 2019 2020 2021 DN/loại vật Sản lượng Tỷ lệ Sản lượng Tỷ lệ Sản lượng Tỷ lệ nuôi (triệu tấn) (%) (triệu tấn) (%) (triệu tấn) (%) DN FDI 11,6 61,3 12,1 59,8 13,5 61,7 DN trong nước 7,3 38,7 8,1 40,2 8,4 38,3 TACN cho lợn 9,4 49,7 8,9 43,8 12,2 55,8 TACN cho gia 8,9 47,2 10,7 52,7 8,8 40,4 cầm TACN cho vật 0,6 2,9 0,6 3,0 0,9 3,8 nuôi khác Tổng 18,9 --- 20,3 7,4 21,9 7,9 Mặc dù tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên số hộ chăn nuôi quy mô nhỏ (dưới 10 con lợn/hộ) chiếm tới 86,4%, riêng số hộ quy mô siêu nhỏ (1-4 con lợn/hộ) chiếm 71,6% tổng số hộ chăn nuôi, nhưng chỉ sản xuất 43,2% tổng lượng thịt. Về gia cầm, số hộ quy mô nhỏ (dưới 100 con gia cầm/hộ) chiếm 89,62% (riêng quy mô siêu nhỏ 1-19 con chiếm 54,39%) nhưng chỉ sản xuất 30% tổng số thịt gia cầm. Các số liệu trên cho thấy, tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi đang phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp và các hộ chăn nuôi quy mô lớn.