ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Giới thiệu chung Ngày 17/12/2011 tại Hà Nội, Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị Doanh nghiệp ngành Xây dựng 2011. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng đã đề cập những thành tựu cũng như những khó khăn, hạn chế của ngành Xây dựng thời gian vừa qua, và phương hướng nhiệm vụ của Ngành trong thời gian tới. Qua đó, trong giai đoạn 2011-2015, mục tiêu tăng trưởng của các doanh nghiệp ngành Xây dựng phấn đấu đạt 12-15%/năm [1].
Theo các số liệu của Tổng cục thống kê từ năm 2005 đến cuối năm 2010, thống kê cho thấy số lượng cơ sở xây lắp, giá trị sản xuất và số lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực xây dựng năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt là giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá thực tế tăng một lượng đáng kể, cụ thể, giá trị năm 2010 tăng gấp 3,7 lần so với năm 2005.1: Số lượng cơ sở xây lắp từ năm 2005 đến 2010 [2] (Cơ sở xây lắp) Năm 2005 2007 2008 2009 2010 Tổng số 3.154 Kinh tế nhà nước 86 64 57 54 53 Trung ương 33 12 12 12 12 Địa phương 26 24 22 22 22 Cổ phần nhà nước >50% 27 28 23 20 19 Kinh tế tập thể 4 3 2 2 2 Kinh tế tư nhân 2.987 Kinh tế tư nhân vốn nhà 22 58 59 61 63 nước >50% Kinh tế có vốn đầu tư 19 64 76 96 112 nước ngoài HVTH: Trần Ngọc Sang MSHV: 10080296 Luận văn Thạc sĩ Trang 2 CBHD: TS. Lưu Trường Văn Bảng 1.2: Gía trị sản xuất ngành xây dựng từ năm 2005 đến 2010 [2] (Triệu đồng) Năm 2005 2007 2008 2009 2010 Tổng số 29.tế nhà nước 9.343 Địa phương 3.483 Cổ phần vốn 1.878 nhà nước Kinh tế tập thể 12.179 Kinh tế cá thể 1.831 Kinh tế tư nhân 17.tế có vốn đầu 891.505 tư nước ngoài Bảng 1.3: Lao động tại cơ sở xây lắp từ năm 2005 đến 2010 [2] ( Người ) Năm 2005 2007 2008 2009 2010 Tổng số 171.601 Kinh tế nhà nước 41.012 Địa phương 16.597 Cổ phần nhà nước >50% 6.222 Kinh tế tập thể 224 22 317 401 463 Kinh tế tư nhân 128.174 Kinh tế tư nhân vốn nhà 6.835 nước >50% Kinh tế có vốn đầu tư 2.719 nước ngoài HVTH: Trần Ngọc Sang MSHV: 10080296 Luận văn Thạc sĩ Trang 3 CBHD: TS. Lưu Trường Văn Trong thời gian gần đây, tình hình kinh tế thế giới đang chuyển biến rất nhanh và kém ổn định.
Với xu thế toàn cầu hóa, mọi sự thay đổi về kinh tế của các nước đều có tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam. Như một quy luật tất yếu, các doanh nghiệp nghành xây dựng nước ta đang đứng trước những thách thức, yêu cầu khắc khe của kinh tế thị trường, hơn bao giờ hết các doanh nghiệp đòi hỏi phải chuẩn bị cho mình tầm nhìn đúng đắn về thế giới quan, có kế hoạch rõ ràng và những bước đi mang tính chiến lược. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 9 tháng đầu năm 2011, cả nước có 48.700 doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây dựng nói riêng bị giải thể hoặc ngừng hoạt động (5.803 doanh nghiệp giải thể, 11.421 ngừng hoạt động và 31.477 doanh nghiệp đã dừng nộp thuế nhưng chưa đăng ký giải thể) [3]. Với các con số này, có thể khẳng định rằng các doanh nghiệp ngành xây dựng đang phải hứng chịu những tác động tiêu cực của kinh tế trong nước và thế giới.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự nhìn nhận lại chính mình, kiểm soát, điều tiết các hoạt động để có các kế hoạch đúng đắn. Tuy nhiên, một trong những khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng là phải đối mặt với rất nhiều rào cản trong việc tạo ra và phát triển các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động của chính doanh nghiệp mình. Điều họ cần hiện nay là một hệ thống mà có thể cân bằng tính chính xác của các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và định hướng về hiệu quả trong tương lai, có thể dự đoán được giá trị lợi nhuận trong tương lai, nhận dạng các hoạt động đạt hoặc kém hiệu quả trong dây chuyền sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý. Việc phát triển một mô hình dự đoán lợi nhuận của công ty bằng công cụ System Dynamic là giải pháp cần thiết để đáp ứng các yêu cầu trên của các doanh nghiệp.
Xác định vấn đề nghiên cứu 1. Lý do hình thành nghiên cứu Đối với một doanh nghiệp mà nói, doanh thu và lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu. Tuy nhiên, đạt được mức lợi nhuận để duy trì và phát triển một doanh nghiệp không phải là một điều dễ thực hiện, mà ở đó cần phải có một chiến lược cụ HVTH: Trần Ngọc Sang MSHV: 10080296 Luận văn Thạc sĩ Trang 4 CBHD: TS. Lưu Trường Văn thể, một phương pháp đúng đắn và hợp lý để kiểm soát các viễn cảnh, mục tiêu, chỉ tiêu của từng người, từng bộ phận, từng yếu tố tác động đến lợi nhuận của công ty.
Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển thì doanh nghiệp đó phải tạo ra doanh thu và lợi nhuận bởi vì nó không chỉ phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh mà còn là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác nhằm đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động. Công ty Cổ phần Indochina Stone Việt Nam (Viết tắt là IBS) là doanh nghiệp tham gia trong hoạt động xây dựng, chuyên sản xuất và thi công ốp đá Granite, Marble. Với việc đầu tư một lượng lớn nguồn vốn vào thiết bị, nhân lực và quan hệ, các nhà quản trị của doanh nghiệp cần những nghiên cứu phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp. Điều đó sẽ giúp họ đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch, mức độ tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận, nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến mục tiêu này của doanh nghiệp.
Từ đó, đưa ra các biện pháp, chính sách để phát huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng cao lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc đánh giá, xem xét một cách khoa học tình hình doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giúp cho nhà quản trị tránh được những nhận định sai lầm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các câu hỏi nghiên cứu Các yếu tố nào tác động đến lợi nhuận của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như Công ty sản xuất và thi công lắp đá Granite IBS? Làm thế nào để xây dựng các mối quan hệ ràng buộc của các yếu tố đó tác động đến mục đích lợi nhuận? Làm sao để kiểm soát được lợi nhuận? Xây dựng chiến lược thống nhất cho mục tiêu lợi nhuận của công ty từ cấp quản lý cao nhất đến thấp nhất và đến từng cá nhân như thế nào? HVTH: Trần Ngọc Sang MSHV: 10080296 Luận văn Thạc sĩ Trang 5 CBHD: TS. Các Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty sản xuất và thi công lắp đá Granite IBS.
Xây dựng các mối quan hệ ràng buộc của các yếu tố tác động đến mục đích lợi nhuận bằng sơ đồ “cấu trúc” của công cụ System Dynamic. Phân tích những nhân tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Từ đó, đưa ra những kế hoạch, chiến lược tốt nhất áp dụng cho công ty. Phạm vi nghiên cứu Thời gian thực hiện : Trong thời gian từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2012.
Địa điểm thực hiện : Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Long An. Đối tượng nghiên cứu : Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty Cổ phần Indochina Stone Vietnam chi nhánh Long An. Đối tượng khảo sát : Cán bộ, công nhân, khách hàng Công ty IBS. Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 1.
Đóng góp dự kiến của đề tài về mặt học thuật Với việc áp dụng công cụ nghiên cứu là System Dynamic, bài luận văn dự kiến góp phần làm phong phú thêm các lĩnh vực mà System Dynamic đã áp dụng thành công. Bổ sung phương pháp nghiên cứu mới nhằm dự đoán và kiểm soát giá trị lợi nhuận của một doanh nghiệp trong tương lai. Đóng góp dự kiến của đề tài về mặt thực tiễn Đề tài sẽ xác định tất cả các yếu tố tác động đến lợi nhuận của công ty sản xuất và thi công đá Granite. Đưa ra những giải pháp nhằm kiểm soát lợi nhuận thông qua vòng lặp phản hồi.
Đồng thời xây dựng một chiến lược cụ thể, thống thất giữa các cấp để đạt được mục đích lợi nhuận của công ty. Nghiên cứu còn giúp cho tất cả các doanh nghiệp đã, đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và thi công lắp đá Granite có cơ sở để xây dựng cho mình quy trình hoạt động hiệu quả nhất có thể. HVTH: Trần Ngọc Sang MSHV: 10080296 Luận văn Thạc sĩ Trang 6 CBHD: TS. Lưu Trường Văn CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.
Các khái niệm, kiến thức, lý thuyết, mô hình sử dụng trong nghiên cứu 2. Khái niệm về Doanh nghiệp Về góc độ pháp lý, theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, doanh nghiệp được khái niệm như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh" [4]. Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng,.Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005, ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty Cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.