CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT GIỮA HỘ NUÔI VÀ CÁC TÁC NHÂN TRONG CHUỖI CUNG TÔM NUÔI 1. Một số khái niệm 1. Liên kết kinh tế và liên kết kinh tế trong nông nghiệp 1. Liên kết kinh tế Cùng với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển sâu rộng của chuỗi giá trị toàn cầu, liên kết kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra sự thành công đối với một quốc gia, địa phương và doanh nghiệp.
Chính các mối quan hệ liên kết đã đưa đến cho các chủ thể những cơ hội để nhận được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn và nhân bản hơn. Xét ở tầm vĩ mô, liên kết kinh tế thể hiện thông qua việc thiết lập các liên minh kinh tế giữa các quốc gia, địa phương hoặc vùng lãnh thổ để hình thành nên các định chế khu vực ở các mức độ khác nhau. Trong khi đó, liên kết ở tầm vi mô được thực hiện thông qua sự thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh liên kết ở tầm vi mô, đến một mức độ nhất định sẽ tác động ngược lại đối với liên kết vĩ mô, nó thúc đẩy các quan hệ liên kết vĩ mô phát triển, chuyển hóa theo hướng thuận lợi cho liên kết vi mô phát huy tác dụng.
Như vậy, liên kết ở tầm vĩ mô là tiền đề tốt để thúc đẩy việc thiết lập và mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế ở tầm vi mô giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh tham gia vào quá trình liên kết. Trong phạm vi luận văn sẽ tập trung tìm hiểu mối kết ở tầm vi mô, cụ thể là mối liên hệ giữa hộ nông dân và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Liên kết kinh tế là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn các khả năng, mở ra những thị trường mới. 6 Trong khi đó, các chuyên gia khác đã đưa ra khái niệm liên kết kinh tế ở tầm khái quát hơn: “Liên kết kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế - xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế - xã hội chung” hay “Liên kết kinh tế là sự hợp tác của hai hay nhiều bên trong quá trình hoạt động kinh tế, cùng mang lại lợi ích cho các bên tham gia.
Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp thiếu hụt và khắc phục hạn chế của mình từ sự phối hợp hoạt động với đối tác”. Nhìn chung, liên kết kinh tế là một trong những hình thức hợp tác ở trình độ cao của con người trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm các hoạt động hợp tác và phối hợp thường xuyên do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đưa ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Nguyên tắc thực hiện liên kết phải dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Những cơ sở này phải được thống nhất, thể hiện trên văn bản hợp đồng ký kết giữa các bên tham gia và phù hợp với khuôn khổ pháp luật của các quốc gia.
[7,8] Dù phát triển ở hình thức nào, các mối quan hệ liên kết kinh tế đều hướng đến những mục tiêu chung là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định. Thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hợp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của từng đơn vị tham gia liên kết. Hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau và giảm thiểu, dàn trải các rủi ro nếu có.2 Liên kết kinh tế trong nông nghiệp Trong nền nông nghiệp mới, sự liên kết kinh tế là rất cần thiết. Sự liên kết kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là liên kết giữa các vùng sản xuất nông nghiệp trong những ngành hàng liên vùng, giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và 7 giữa chính nông dân với nhau để tăng quy mô sản xuất kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, tăng cạnh tranh.
Trong phạm vi luận văn, khái niệm liên kết kinh tế trong nông nghiệp sẽ được hiểu sự hợp tác của các đối tác trên chuỗi ngành hàng nông sản để đưa nông sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm tìm kiếm những cơ hội đem lại lợi nhuận từ sự liên kết này, cô đọng trong mối quan hệ liên kết kinh tế giữa nông dân với một hoặc nhiều chủ thể kinh tế khác tại địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đó là mối liên kết ngạng giữa chính nông dân; mối liên kết dọc giữa nông dân với các doanh nghiệp trên địa bàn; ngoài ra luận văn còn đề cập qua về các mối liên kết giữa nông dân với nhà nước, chính quyền địa phương, các nhà khoa học, trường học, viện nghiên cứu. Một hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp được xem là tiến bộ khi nó đạt được các tiêu chí: i) Liên kết đó đảm bảo tôn trọng tính độc lập của các đơn vị sản xuất nông nghiệp đối với sở hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm sản xuất ra; ii) liên kết đó phải tăng khả năng cạnh canh của nông sản sản xuất ra như về chi phí, mẫu mã, an toàn thực phẩm; iii) liên kết đó phải bền vững và đảm bảo phân chia lợi ích phù hợp giữa các đối tác, đặc biệt đối với nông hộ; iv) liên kết đó đảm bảo nông sản đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. [5,13] Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GTZ) có nhiều nghiên cứu về liên kết kinh tế nông nghiệp thông qua mô hình chuỗi giá trị tại một số tỉnh thành ở Việt Nam.
Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy rằng mặc dù có rất nhiều tiềm năng đã được khám phá trong chuỗi giá trị ở một số ngành như cà phê, bơ, rau sạch…Tuy nhiên, việc liên kết này vẫn bộc lộ nhiều thiếu sót và trở ngại chính trong quá trình thực hiện như: - Mối liên hệ và hợp tác lỏng lẻo của các tác nhân dọc theo chuỗi; - Người sản xuất thường không chú ý đến thị trường và các yêu cầu của thị trường; - Cơ cấu hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển còn lạc hậu; - Chưa có một cơ chế liên kết rõ ràng; 8 - Hoạt động tự phát và không có chiến lược, mục tiêu dài hạn… Do vậy, để triển khai và nhân rộng mô hình này được thành công và bền vững, các bên tham gia cần hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong liên kết chuỗi, việc phân chia lợi ích, chia sẻ rủi ro phải rõ ràng và phải có một chương trình hành động cụ thể, xác định mục tiêu dài hạn mong muốn đạt tới với sự tham gia của tất các bên là điều cần thiết. Nuôi tôm Tôm là loài chân khớp có thể trạng nhỏ, thân mềm nên công tác nuôi tôm phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn và khó khăn hơn nhiều so với cá bao gồm các khâu cho tôm ăn, kiểm tra môi trường nước, theo dõi sức khỏe tôm, sử dụng thuốc, hóa chất, xử lý môi trường…. Có nhiều loại tôm tại Việt Nam, tuy nhiên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu 2 loại tôm phổ biến tại địa bàn khảo sát là tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Thời gian nuôi tôm sú mất khoảng 5 tháng trong khi đó tôm thẻ chân trắng chỉ mất 3 tháng.
Có 4 hình thức nuôi tôm (1) Nuôi tôm quảng canh (2) Quảng canh cải tiến (3) Hình thức nuôi tôm bán thâm canh (4) Hình thức nuôi tôm thâm canh. Các hộ nuôi khảo sát chỉ tập trung chủ yếu 2 hình thức nuôi là thâm canh và bán thâm canh. Cả hai hình thức này sử dụng giống và thức ăn công nghiệp và đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ. Nuôi tôm theo hình thức thâm canh và bán thâm canh đòi hỏi các yêu cầu về kỹ thuật, môi trường nước và lượng oxy hòa tan … Hình thức nuôi này đòi hỏi người nuôi phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị, cơ cở vật chất kỹ thuật hiện đại và nguồn vốn đầu tư lớn.
Tuy nhiên, hầu hết người nuôi tôm đều không qua trường lớp đào tạo tập huấn chuyên môn về kỹ thuật nuôi tôm mà chủ yếu tham gia nuôi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Nếu phân theo vùng nuôi được chia làm 2 vùng nuôi vùng ven sông nước lợ nuôi ao đất và vùng ven biển nuôi ao cát, hàng ngày nước được thải qua ao xử lý môi trường và xả ra biển hoặc sông. Vì thực tế nguồn nước thải ra môi trường tự nhiên không được xử lý do đó nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng và nguy cơ lây lan dịch bệnh lớn. 9 Những hộ chủ yếu nuôi thâm canh trên cát, được tiến hành bằng cách xây dựng hồ nhân tạo trên những bãi cát ven biển, chống thấm bằng lớp vải kỹ thuật ở đáy và ven bờ rồi phủ một lớp cát lên trên.
Hình thức này gọi là hình thức nuôi tôm công nghiệp cao triều. Mặc dù trên lý thuyết 2 hình thức nuôi này không bị ảnh hưởng bởi thủy triều, các yếu tố ngoại lai ở trong môi trường nước tự nhiên thâm nhập và tránh được các mầm bệnh thủy sinh mang lại nhưng trên thực tế nuôi trồng thủy sản và đặc biệt nuôi tôm vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro như tùy theo nguồn lực của hộ để xây dựng hệ thống ao hồ, tùy theo trình độ kỹ thuật của hộ và ý thức của hộ đối với bảo vệ môi trường nước. Chuỗi cung Khái niệm chuỗi cung ứng (supply chain) xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX. Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dich vụ vào thị trường (Lambert và Cooper, 2000).