CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH 1. Tổng quan về kế hoạch trong doanh nghiệp 1. Khái niệm kế hoạch Trong hệ thống công cụ quản lý, kế hoạch là một công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng, bởi nó hỗ trợ cho tổ chức sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực hạn chế và đối phó với tính không chắc chắn của môi trường. Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về kế hoạch dựa trên các cách tiếp cận khác nhau.
Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, các nhà khoa học cho rằng: Kế hoạch là một quá trình ra quyết định và lựa chọn các phương án khác nhau nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực có hạn chế để đạt được các mục tiêu đề ra cho một thời kỳ nhất định trong tương lai. Như vậy, thực chất kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một công cụ quản lý của Nhà nước nhằm điều hành và phát triển kinh tế quốc dân theo những chiến lược và mục tiêu đã lựa chọn. Đứng trên góc độ của một tổ chức, kế hoạch là tổng thể các mục tiêu, các nhiệm vụ cũng như các giải pháp và nguồn lực mà tổ chức có thể sử dụng để đạt được mục tiêu của tổ chức. Khái niệm kế hoạch kinh doanh Kế hoạch kinh doanh là kế hoạch mô tả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường ở doanh nghiệp có hai loại là kế hoạch chiến lược và kế hoạch định kỳ.
Trong luận văn này, tác giả đi vào nghiên cứu kế hoạch sản xuất kinh doanh định kỳ 1 năm của doanh nghiệp. Cách tiếp cận theo quá trình cho rằng: Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một quá trình có tính chất liên tục từ khi chuẩn bị xây dựng kế hoạch đến thực 4 hiện, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch để đưa doanh nghiệp phát triển theo các mục tiêu đã định. Cách tiếp cận theo nội dung và vai trò: Kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của chu trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất hoạt động này là nhằm xem xét mục tiêu các phương án kinh doanh bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài những cách tiếp cận trên, theo các nhà khoa học cho rằng: "Kế hoạch kinh doanh là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó".
Như vậy, kế hoạch hoá doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng tiên đoán mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra. Công tác này bao gồm các hoạt động là lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch. Lập kế hoạch: Đây là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp nó là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất chính sách giải pháp áp dụng. Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch của doanh nghiệp được hình thành và nó chính là cơ sở cho việc thực hiện các công tác sau của kế hoạch hoá.
Bản kế hoạch doanh nghiệp là hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu phát triển đặt ra trong thời kỳ kế hoạch nhất định. Kế hoạch doanh nghiệp chính là thể hiện ý đồ phát triển của các nhà lãnh đạo và quản lý đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các giải pháp thực thi. Công tác lập kế hoạch của các doanh nghiệp nhằm mục tiêu sử dụng một cách hợp lý toàn bộ giá trị tài sản nhà nước giao cho doanh nghiệp để tiến hành sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế xã hội, tạo nhiều sản phẩm và sản xuất hàng hoá, dịch vụ 5 cần thiết cho xã hội tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia và cải thiện từng bước đời sống công nhân viên chức. Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm xác định số lượng từng loại sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường và hiệu quả cao.
Đặc trưng của kế hoạch kinh doanh 1. Kế hoạch mang tính định hướng Kế hoạch kinh doanh không sử dụng biện pháp mệnh lệnh mà chủ yếu sử dụng biện pháp gián tiếp và thực hiện định hướng đó.Kế hoạch có nhiệm vụ đưa ra các chỉ tiêu cụ thể và các biện pháp thực hiện. Khi thực hiện xây dựng kế hoạch để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì những người lập kế hoạch phải đưa ra các phương án thực hiện các mục tiêu đó một cách tối ưu, các mục tiêu phải được cụ thể bằng các chỉ tiêu cụ thể. Kế hoạch có tính linh hoạt Trong nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanh có rất nhiều thay đổi bất thường.
Vì vậy, kế hoạch không thể là một kế hoạch cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo từng thuộc vào tình hình thay đổi của thị trường mà thay đổi các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp để đảm bảo thực hiện được mục tiêu của kế hoạch. Tính hiệu quả của kế hoạch Tính hiệu quả của một kế hoạch được đo bằng sự đóng góp của nó và mục đích và mục tiêu của chúng ta so với các chi phí và các yếu tố khác cần thiết để lập ra và thực hiện kế hoạch. Các kế hoạch là hiệu quả nếu chúng đạt được mục tiêu đề ra với chi phí hợp lý, khi mà chi phí được đo bằng thời gian, tiền của hay sản phẩm mà còn bằng độ thoả mãn của cá nhân hay tập thể. Công tác lập kế hoạch là việc làm chủ của con người nhằm can thiệp và điều chỉnh các hoạt động của sản xuất kinh doanh với mong muốn chúng 6 ngày càng có hiệu quả và các phương án và quyết định thường dựa vào kết quả dự đoán, dự báo về hiện tượng sẽ xảy ra trong tương lai.
Chức năng của kế hoạch kinh doanh Với tư cách là một công cụ ra quyết định kế hoạch doanh nghiệp luôn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý ở tầm vĩ mô, vai trò đó được thể hiện trong các chức năng tiềm ẩn.Chức năng ra quyết định Kế hoạch hoá cho phép xây dựng quy trình ra quyết định và phối hợp các quyết định, vì nhiều lý do (quy mô, sự phức tạp của tổ chức, cá nhân mâu thuẫn nội bộ hoặc sự không ổn định của môi trường). Có thể quy trình ra quyết định khó được kiểm soát và vai trò của kế hoạch ở đây là tạo lên một khuôn khổ hợp lý cho việc ra quyết định nếu các quy trình ra quyết định được xây dựng tương đối độc lập, chức năng này là một trong những điểm mạnh của hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp. Chức năng giao tiếp Kế hoạch hoá tạo điều kiện cho việc giao tiếp giữa các thành viên của ban lãnh đạo, cho phép lãnh đạo các bộ phận khác nhau phối hợp xử lý các vấn đề trong dài hạn, bộ phận kế hoạch cũng thu lượm được từ các bộ phận nghiệp vụ các triển vọng trung hạn và chuyển tới các bộ phận khác. Là một tài liệu chứa đựng các lựa chọn chiến lược cho tương lai của doanh nghiệp, nhất là khi nó bao gồm các kế hoạch chức năng, kế hoạch có thể tạo lên một công cụ hiệu quả từ Ban lãnh đạo đến các bộ phận chức năng và huy động các bộ phận này vào thực hiện các lựa chọn chiến lược chung.
Chức năng quyền lực Kế hoạch hợp lý và khoa học là một trong những phương tiện để khẳng định tính đúng đắn của các định hướng chiến lược đã chọn, quy định kế hoạch 7 có thể được xem là một trong những phương tiện mà người lãnh đạo nắm giữ để định hướng tương lai của doanh nghiệp mà thực hiện sự "thống trị" của họ. Trong doanh nghiệp, kế hoạch đúng đắn đem lại cảm giác được quản lý một cách hợp lý và mọi người đều được đóng góp vào kế hoạch với tư cách người ra quyết định. Các nguyên tắc kế hoạch kinh doanh Nguyên tắc kế hoạch kinh doanh xác định tính chất và nội dung hoạt động kế hoạch trong đơn vị kinh tế.Tuân thủ đúng đắn các nguyên tắc của kế hoạch hoá tạo điều kiện tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả và giảm thiểu các tiêu cực có thể trong hoạt động của doanh nghiệp. Nguyên tắc thống nhất Tính thống nhất là một yêu cầu của công tác quản lý.Doanh nghiệp được cấu thành bởi hệ thống khá phức tạp như quan hệ cấp trên cấp dưới, quan hệ cùng cấp.
Nguyên tắc thống nhất yêu cầu đảm bảo sự phân chia và phối hợp chặt chẽ trong quá trình xây dựng, triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch giữa các cấp, các phòng ban chức năng trong một doanh nghiệp thống nhất. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện. - Phân định rõ ràng chức năng này giữa các bộ phận, các phòng ban trong công tác kế hoạch hoá, các kế hoạch bộ phận đi vào giải quyết những mảng công việc mang tính chức năng, đặc thù riêng, với mục tiêu và tổ chức thực hiện khác biệt. - Tuy vậy, mỗi tiêu hệ thống kế hoạch đều đi từ chiến lược chung của toàn doanh nghiệp và thực hiện một mục tiêu chung.
Các kế hoạch được hình thành trong doanh nghiệp không chỉ đơn giản là phép cộng hay sự lắp ghép thuần tuý các bộ phận mà còn là hệ thống có liên quan chặt chẽ đến nhau. 8 Tính thống nhất trong công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp nhằm mục tiêu hướng tới mục đích chung của doanh nghiệp cũng như vì sự phát triển của từng bộ phận cấu thành. Nguyên tắc tham gia Nguyên tắc tham gia có liên quan mật thiết với nguyên tắc thống nhất. Nguyên tắc này có nghĩa là mỗi thành viên của doanh nghiệp đều tham gia những hoạt động cụ thể trong công tác kế hoạch hoá, không phụ thuộc vào nhiệm vụ và chức năng của họ công tác kế hoạch hoá có sự tham gia của mọi thành phần sẽ mang lại những lợi ích sau: Một là, Mỗi thành viên của doanh nghiệp sẽ nhận được thông tin một cách chủ động hơn và trao đổi thông tin sẽ dễ dàng hơn.