CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1.1 Khái quát về hoạt động nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hoạt động nhập khẩu Hoạt động nhập khẩu hiện đã, đang và vẫn là một trong những hướng nghiên cứu thu hút được rất nhiều sự chú ý từ tất cả các học giả trên toàn thế giới (Quintens và cộng sự, 2006). Theo Trent and Monczka (2005) hoạt động nhập khẩu hàng hóa là quá trình tích hợp và phối hợp giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu trong việc cung cấp hàng hóa đến nhà nhập khẩu. Trong khi đó Chopra và Meindl (2019) cho rằng hoạt động nhập khẩu là các hoạt động thu mua nguyên vật liệu, dịch vụ và vận chuyển nguồn nguyên vật liệu đó từ nhà cung cấp hoặc sản xuất nước ngoài để cung cấp hàng hóa, phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ cho nhà nhập khẩu. Tại Việt Nam, theo Điều 28 khoản 1 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã định nghĩa “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực dặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Còn theo Đoàn Thị Hồng Vân (2009) nhập khẩu hàng hóa là những giao dịch hàng hóa và dịch vụ (mua bán, đối ứng hoặc tặng cho) từ cư dân, công ty, chính phủ ở nước ngoài đến cư dân ở một nước và hàng hóa dịch vụ đó phải di chuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia. Nhìn chung, dù được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau nhập khẩu hàng hóa là hoạt động đưa hàng hóa từ thị trường nước ngoài đến thị trường nội địa thông qua quá trình đàm phán và hợp tác giữa hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.2 Phân loại hoạt động nhập khẩu Theo Cateora và cộng sự (2011), Mikulić và Lovrinčević (2018) hoạt động nhập khẩu hàng hóa được phân thành 2 loại đó là nhập khẩu trực tiếp và gián tiếp. Thứ nhất, ở hình thức nhập khẩu trực tiếp người mua và người bán trực tiếp thực hiện giao dịch, hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm trực tiếp từ các nhà cung cấp nước ngoài sau đó tiến hành sản xuất hoặc trực tiếp xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Trong khi đó hoạt động nhập khẩu gián tiếp được hiểu là nhà nhập khẩu ủy thác một đơn vị trung gian ở nước ngoài thay mặt hoặc đứng tên nhập khẩu hàng hóa bằng hợp đồng ủy thác sau đó sử dụng một đơn vị thứ ba ở trong nước để tiến hành xuất khẩu lại sang thị trường nước ngoài.
3 Cũng dựa trên vai trò của 3 bên liên quan đó là nhà nhập khẩu, xuất khẩu và bên trung gian, Karlsen và cộng sự (2003) đã phân loại hoạt động nhập khẩu thành 3 loại nhưng chi tiết hơn. Thứ nhất là hoạt động nhập khẩu trực tiếp doanh nghiệp sẽ nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp nước ngoài một cách trực tiếp. Thứ hai là hoạt động nhập khẩu ủy thác theo đó một bên trung gian nhận ủy thác của đơn vị nhập khẩu sẽ đóng vai trò thay cho đơn vị nhập khẩu để tiến hành ký kết hợp đồng đối với phía bên đối tác nước ngoài. Cuối cùng là hoạt động nhập khẩu tái xuất, chính là việc mà các doanh nghiệp nhập khẩu lại từ đối tác nước ngoài.
Tóm lại, dù được phân loại như thế nào thì các hoạt động nhập khẩu vẫn dựa trên nguyên tắc là vai trò của 3 bên liên quan đó là nhà nhập khẩu, xuất khẩu và trung gian. Không có phương thức nhập khẩu nào tối ưu hơn, việc lựa chọn phương thức nhập khẩu nào phụ thuộc vào mức kinh phí và chiến lược hoạt động của từng doanh nghiệp (Cateora và cộng sự, 2011).3 Lợi ích và khó khăn khi tham gia hoạt động nhập khẩu 1. Lợi ích của hoạt động nhập khẩu đối với doanh nghiệp Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh quốc tế mở như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục nghiên cứu và đổi mới các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho thu được lợi nhuận cao nhất. Liang và Parkhe (1997), Daniels và Radebaugh (2001), Mittelstaedt và cộng sự (2005) cho rằng hoạt động tìm kiếm nhà cung cấp mới thông qua hình thức nhập khẩu là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng nhằm giúp cho doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bởi 3 lợi ích chính sau đây: Thứ nhất, các hoạt động nhập khẩu giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí mua hàng và gia tăng lợi nhuận.
Việc tìm kiếm các nhà cung cấp mới từ thị trường nước ngoài giúp cho doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận được hàng hóa với mức giá rẻ hơn so với nhà cung cấp nội địa. Chính vì thế doanh nghiệp có lợi thế trong việc cắt giảm chi phí giá vốn hàng bán và gia tăng lợi nhuận – mục tiêu hoạt động lớn nhất của doanh nghiệp. Thứ hai, bên cạnh việc cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp khi tham gia hoạt động nhập khẩu cũng có thể gia tăng được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trên thị trường. Trong đó hai lợi thế lớn nhất là giá và chất lượng: Đầu tiên, nhờ vào việc tìm kiếm các nhà cung cấp mới với mức giá cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp có thể đưa ra mức giá bán tốt hơn từ đó giúp họ có thể cạnh tranh với các đối thủ về giá; Bên cạnh đó, các nguồn hàng từ nhà cung cấp mới với chất lượng tương xứng hoặc tốt hơn 4 cũng giúp cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hóa mà họ cung cấp nhờ đó gia tăng lòng trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Cuối cùng, việc tham gia vào hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tiếp cận với các loại hàng hóa mà thị trường nội địa chưa thể cung cấp đặc biệt là các loại hàng hóa đòi hỏi trình độ sản xuất cao và phức tạp mà thị trường nội địa chưa đủ khả năng sản xuất. Để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cùng với sự hạn hữu về năng lực sản xuất hàng hóa của thị trường trong nước đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia vào hoạt động nhập khẩu từ các thị trường khác. Khó khăn của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động nhập khẩu Nhập khẩu và xuất khẩu được cho là vấn đề hai mặt của đồng xu (Mittelstaedt và cộng sự, 2005). Bên cạnh những lợi ích từ hoạt động nhập khẩu mang lại cho doanh nghiệp đã nêu trên, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với những khó khăn khi tham gia hoạt động nhập khẩu như sau: Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu theo Quintens và cộng sự (2005), Busse và cộng sự (2016) gặp phải rào cản về mặt vị trí địa lý.
Trong đó khoảng cách địa lý giữa người mua và người bán được cho là một trong những rào cản lớn nhất về mặt địa lý (Busse và cộng sự, 2016). Tương tự bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa và tập quán kinh doanh cũng được cho là những rào cản khiến cho hoạt động nhập khẩu vận hành một cách trơn tru (Quintens và cộng sự, 2005). Những khó khăn về mặt vị tí địa lý là nguyên nhân làm giảm kết quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp (Platts và Song, 2010). Thứ hai, rào cản thể chế cũng được cho là một trong những thách thức cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động nhập khẩu (Quintens và cộng sự, 2005; Subramanian và cộng sự, 2015).
Trong đó sự khác biệt về thể chế chính trị, hệ thống cơ sở hạ tầng nghèo nàn và quy trình thủ tục hải quan lỗi thời là những rào cản thể chế chính hạn chế kết quả nhập khẩu của doanh nghiệp đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển (Quintens và cộng sự, 2005; Subramanian và cộng sự, 2015). Thứ ba, theo Nassimbeni (2006) rào cản liên quan đến nhà cung cấp cụ thể là các rào cản về mối quan hệ giữa người mua và người bán, các vấn đề liên quan đến hợp đồng và sự yếu kém về các kỹ năng kiến thức trong hoạt động mua bán quốc tế là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Cuối cùng, theo Blalock và Veloso (2007) việc tìm kiếm nguồn hàng hóa từ các nhà cung cấp nước ngoài nhất là đối với các mặt hàng công nghệ cao đòi hỏi trình độ kỹ thuật để có thể sản xuất ra khiến cho các doanh nghiệp nội địa lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cung cấp. Bên cạnh đó nguồn hàng sẵn có từ phía nhà cung cấp cũng hạn chế công 5 tác nghiên cứu và phát triển (R&D) sản phẩm mới từ phía doanh nghiệp điều này có thể có hại đối với nước nhập khẩu về lâu dài.4 Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa Có nhiều tiêu chí để đánh giá hoạt động xuất - nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp, tuy nhiên các chỉ tiêu thuộc tiêu chí kinh tế (economic measures) như kim ngạch xuất - nhập khẩu, doanh thu xuất - nhập khẩu, lợi nhuận xuất - nhập khẩu và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất - nhập khẩu thường được sử dụng nhất (Khổng Văn Thắng, 2013; Sousa và Novello, 2014; Chen và cộng sự, 2016).
Trong đó: - Kim ngạch xuất - nhập khẩu (export - import turnover) là tổng giá trị xuất - nhập khẩu của các (hoặc một) hàng hoá xuất - nhập khẩu vào quốc gia (hoặc một doanh nghiệp) trong một kỳ được quy đổi đồng nhất ra một loại đơn vị tiền tệ nhất định. - Doanh thu xuất nhập khẩu (export - import Sales) là tổng giá trị thực hiện được do việc bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách bằng hình thức xuất - nhập khẩu cho khách hàng mang lại cho doanh nghiệp. - Lợi nhuận xuất - nhập khẩu (export - import Profit) là giá trị tuyệt đối của doanh thu xuất - nhập khẩu và chi phí xuất - nhập khẩu. - Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất - nhập khẩu là sự thay đổi của kim ngạch xuất - nhập khẩu của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định.
Để đánh giá thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị điều khiển thiết bị điều khiển và truyền động của Công Trách Nhiệm Hữu Hạn Bosch Việt Nam giai đoạn 2018-2020, tác giả quyết định sử dụng các chỉ tiêu thuộc tiêu chí kinh tế (economic measures) để đánh giá.