Chương 1 TONG QUAN 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu ngoài nước Nerrie (1987) đã xây dựng được các loại hàm số sản xuất khác nhau trong nuôi trồng thuỷ sản. Biến phụ thuộc mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu là sản lượng cá (Ibs/acre/ngày), các biến độc lập mà tác giả đã sử dụng như: thức ăn, khoản trả nợ hàng năm, thời gian lao động, cá giống thả và thời gian nuôi. Kết quả nghiên cứu cho thay rằng mức độ ảnh hưởng của từng biến đến sản lượng. Vi dụ: hệ số của thức ăn là +0.36 cho thấy thức ăn có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng, các biến khác như việc trả nợ và số cá thả đều có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng cá nuôi.
Trong khi đó, thời gian nuôi và lao động sản xuất lại có ảnh hưởng xấu. Kennendy và Le Xuan Sinh (2003) đã chỉ ra rằng tính chất thời vụ và tác động của thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sản lượng cũng như giá sản phẩm làm ra trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp. Nếu sản phẩm được sản xuất ra đều đặn thì có thé cải thiện được mức lợi nhuận bằng việc giảm chi phí, giảm tinh thời vụ của việc cung cấp sản phẩm sản xuất, đồng thời cũng giúp giảm giá bán sản phẩm trên thị trường tăng tính cạnh tranh. Vì vậy, nếu vận dụng tốt điều này vào nghề nuôi cá lồng biển thì có thé tạo được hài hòa các lợi ích giữa người sản xuất giống, người nuôi và người tiêu thụ.
Olaoye và cộng sự (2014) đã so sánh lợi ích kinh tế của ao cá đất và bề bê tông trong các doanh nghiệp thủy sản tại bang Oyo, Nigeria. Nghiên cứu tập trung đánh giá so sánh lợi ích kinh tế của ao nuôi cá bằng đất và bé bê tông trong các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản ở Ibadan, bang Oyo. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 100 nông dân nuôi cá bằng cách sử dụng quy trình lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng thống kê mô tả, phân tích lợi ích chi phí và suy luận.
Kết qua cho thấy, người sử dụng ao cá đất có doanh thu trung bình là 3.189,85 NGN (Nigeria naira, 1 NGN = 50,8 VND), lợi nhuận gộp là 2.397,89 NGN; người sử dung bé bé tông có doanh thu trung bình 2.271,08 NGN, lợi nhuận là 1. Kết quả cho thấy các chỉ số về khả năng sinh lời (0,61 và 0,47), Tỷ lệ chi phí biến đổi (0,35 và 0,30), Tỷ lệ chi phi lợi ích (2,55 va 1,89), Tỷ lệ gop (0,40 và 0,54) và Tỷ lệ cơ cấu chi phí (0,13 và 0,23) tương ứng cho ao đất và bề cá bê tông. Những hạn chế chính ảnh hưởng đến tình trạng kinh tế của những người được hỏi là chi phí thức ăn chất lượng cao, thiếu vốn, trộm cắp và kênh tiếp thị kém. Maaruf và cộng sự (2020) đã phân tích sản lượng cá và ước tính của hàm sản xuất đối với năng suất cá và tổng thu nhập của 60 trang trại nuôi cá tại bac Iraq.
Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích lợi ích-chi phí và hàm sản xuất Cobb-Douglas và hồi quy bội. Theo kết quả, tỷ lệ lợi ich-chi phí là 1,8 và điều đó cho thay rằng nuôi cá trong khu vực có lãi. Theo hàm sản xuất ước tinh, nếu tat ca các yêu tố đầu vào đều tăng 1% thì sản lượng chi tăng 0,92%. Kết qua mô hình hồi quy cho thấy các yếu tố tuổi của nông dân, trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi cá, quy mô và số lượng ao, tông số cá giống thả, tuôi ao, thời điểm thả cá có tác động đáng kê về mặt thống kê đối với năng suất của các trang trại nuôi cá.
Ahmadu và cộng sự (2021) đã nghiên cứu khả năng sinh lời và hiệu quả lợi nhuận của hoạt động sản xuất cá da trơn ở Edo South, Nigeria. Nghiên cứu sử dụng thong kê mô tả, phân tích lợi ích chi phí và hàm sản xuất Cobb-Douglas dé phân tích dữ liệu thu thập được từ 120 hộ sản xuất cá da trơn giống ở Bang Edo, Nigeria dé kiểm tra khả năng sinh lời và hiệu quả lợi nhuận trong sản xuất của họ. Kết quả cho thấy doanh thu là 2.443,2 NGN (Nigeria naira, 1 NGN = 50,8 VND); lợi nhuận là 2.004,24 NGN; lợi nhuận rong trên mỗi chu kỳ san xuất 120. Sản xuất cá đa trơn giống là một hoạt động kinh doanh có lãi trong khu vực nghiên cứu.
Mật độ nuôi, chị phí lao động, Thời gian nuôi, Kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đên năng suât của các nhà sản xuât cả. Nghiên cứu trong nước Võ Thị Thủy (2010) đã nghiên cứu về hiệu quả kinh tế nuôi cá rô phi đơn tính tại huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An. Tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglass dé phân tích về các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động của các hộ nuôi cá rô phi tại khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của các hộ gia đình nuôi cá rô phi bao gồm: giống, thức ăn tươi, thức ăn công nghiệp, lao động.
Vũ Trọng Hội (2010) đã tiến hành điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Thành phố Hạ Long - Tinh Quang Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy dé tao ra sản pham của ngành nuôi trồng thủy sản cần phân phối giữa các yêu tô đầu vào và hiệu qua của nó tùy thuộc vào trình độ phối hợp hợp lý giữa các yêu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Kết quả đã xác định những khó khăn gặp phải của những hộ nuôi cá bớp lồng bé ở Vịnh Ha Long là thiếu vốn, giống và chất lượng con giống, thiếu kỹ thuật, thiếu thị trường, thiếu lao động. Nghiên cứu của Cục nuôi trồng thủy sản, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy Việt Nam có tiềm năng to lớn về điện tích mặt nước bién (trên 1 triệu km? vùng đặc quyền kinh tế dé phát triển nghề nuôi cá biển, trong đó, cá bớp và cá mú là đối tượng rất quan trọng (Cục nuôi trồng Thủy sản, 2008).
Vì thế, việc tập trung đây mạnh mọi nguồn lực để phát triển nghề nuôi cá lồng, đáp ứng mục tiêu nêu trên là rất cần thiết và cấp bách. Nghiên cứu của Trần Thị Tình (2011), đã phân tích về phát triển nuôi trồng thủy sản ở huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tác giả đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi như: Lao động và trình độ lao động, yếu tố đầu vào cho hộ nuôi trồng thủy sản, về giá cả thủy sản, nhu cầu về vốn, vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật. Lâm Thị Mỹ Lan (2019) đã phân tích hiệu quả sản xuất mô hình nuôi tôm thâm canh tại các huyện ven biển tỉnh Trà Vinh.
Nghiên cứu đã ước lượng hiệu quả sản xuất và tìm hiểu các yếu tô ảnh hưởng đến năng suất cho 300 nông hộ nuôi tôm tại 04 huyện ven biển của tỉnh Trà Vinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả sản xuất trung bình là 50. Kết quả mô hình Cobb-Douglas cũng đã chỉ ra các yếu tố khối lượng thức ăn, chỉ phí thú y, kinh nghiệm nuôi, diện tích ao, việc xử lý ao nuôi, việc tham gia tập huấn và chất lượng con giống có ảnh hưởng đến năng suất mô hình nuôi tôm thâm canh tại các huyện ven biển tỉnh Trà Vinh. Lê Ngọc Danh và cộng sự (2021) đã phân tích hiệu quả sản xuất mô hình nuôi cua - tôm quảng canh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu thực hiện ước lượng hiệu quả sản xuất và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cho 308 nông hộ nuôi cua-tôm quảng canh tại ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau bằng mô hình Cobb-Douglas. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất trung bình của cua biển là 10 kg/1000m”/năm, của tôm là 16 kg/1000m/năm, lợi nhuận trung bình của mô hình là 3 triệu đồng/1000m”/năm. Nông hộ có hiệu quả kỹ thuật thấp chi dat 53,5% và hiệu quả phân phối là 43,1% từ đó dẫn tới hiệu quả sản xuất của mô hình thấp chỉ đạt 22,1%. Mô hình Cobb-Douglas các yếu té ảnh hưởng đến năng suất của mô hình có 7 biến: trình độ, kinh nghiệm, số lao động, mật độ thả tôm, số lần thả cua và tỷ lệ cua Y trên tong sản lượng cua có ảnh hưởng đến năng suất mô hình nuôi cua - tôm quảng canh.
Hoàng Thị Ngọc Hà (2023) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu qua sản xuất của mô hình nuôi trồng thủy sản xen ghép tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm phân tích hiệu quả sản xuất và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi trồng thủy sản xen ghép tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ phương pháp phân tích hồi quy. sử dung hàm sản xuất Cobb - Douglas, hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi trồng thủy sản xen ghép của các hộ phụ thuộc vào các yếu tô như chi phí thức ăn, chi phi công lao động, mật độ thả tôm, mật độ tha cua và mật độ thả ca.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố được đưa vào mô hình có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến kết quả và hiệu quả nuôi xen ghép của các hộ điều tra. Bên cạnh những yếu tố đưa vào ước lượng trong mô hình, hiệu quả nuôi trồng của các hộ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tô khác như chi phí cho xăng dầu và điện, chi phí cho thuốc, hóa chất, chỉ phí cho vật tư tu bồ ao nuôi trồng, nguồn nước, thời tiết, khí hậu, các yếu tố liên quan đến thị trường tiêu thụ, chính sách phát triển của địa phương, các yếu tố kỹ thuật. Chính vì vậy, dé nâng cao hiệu quả từ hoạt động nuôi xen ghép các đối tượng nuôi như tôm - cua - cá, các ban ngành liên quan của địa phương cần chú trọng và mở rộng hơn nữa các lớp tập huấn về kỹ thuật như mật độ thả giống, khâu xử lý, tu b6 ao nuôi trước khi nuôi, dam bảo loại bỏ yếu tố dịch bệnh từ vụ trước và tạo môi trường nuôi mới dé sử dụng các yếu tố đầu vào có hiệu quả hơn. Đúc kết các tài liệu nghiên cứu Qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu, các kết quả của các nghiên cứu được tổng hợp như sau: Bảng 1.