Chương 1: Một số vấn đề về hiệu quả sản xuất kinh doanh và hệ z z thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.1 Tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề mà được các nhà kinh tế và quản lí kinh tế rất quan tâm vì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu chung là tối đa hóa lợi nhuận. Và lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tổn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như cá nhân đang hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. Vấn đề này đã được nghiên cứu từ những năm 30 thế kỉ trước và đặc biệt được quan tâm nghiên cứu từ những năm 60 thế kỉ trước trở lại đây. Chính vì vậy mà đã có khá nhiều khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh được đưa ra dựa trên các nghiên cứu khác nhau nhưng thường được chia làm 4 nhóm như sau: Nhóm thứ nhất cho rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa.
Tuy nhiên quan điểm này ở thời điểm hiện tại đã không còn phù hợp nữa. Vì ở quan điểm trên, tác giả đã đồng nhất cả hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh làm một và ở quan điểm này cũng đã không đề cập tới một phần quan trọng trong hiệu quả sản xuất kinh doanh là chi phí sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm này, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hai kì sẽ như nhau nếu kết quả sản xuất kinh doanh ở hai kì này giống nhau dù sẽ có sự chênh lệch về chỉ phí sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, doanh thu của một doanh nghiệp sẽ tăng lên nếu chi phí dành cho dau tư các nguồn lực đưa vào kinh doanh tăng lên nhưng nếu trong trường hợp mức độ tăng của doanh thu nhỏ hơn mức độ tăng của chi phí thi lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm.
Đây là sự thiếu sót trong khải niệm sẽ dẫn tới việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh không đúng. Nhóm thứ hai cho rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra dé thu được kết quả đó. Ở quan điểm này tuy đã có sự cải tiên ở việc gắn kết kết quả thu được cùng với chi phí bỏ ra nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế ở việc chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí vì chúng vốn là những đại lượng luôn luôn thay đổi theo thời gian. Nhóm thứ ba cho rang: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là quan hệ giữa tỉ lệ phần tăng thêm của kết quả và phan tăng thêm của chi phí.
Ở đây, ta có thé thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh được xét thông qua các chỉ tiêu tương đối. Khắc phục được một số SV: Phạm Đức Duy 6 GVHD: TS.Cao Quốc Quang Chuyên đề thực tập tốt nghiệp hạn chế ở các quan điềm trước như đã phản ánh mối tương quan giữa kết qua thu được và chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh và đặc biệt phản ảnh được sự tiến bộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa hai kì. Tuy nhiên ở quan điểm này lại tồn tại hạn chế lớn là không thé đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh ở kì ban đầu do không xét tới mức độ tuyệt đối của của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh. Vì vậy trong trường hợp dù tỉ lệ tăng của doanh thu cao hơn nhiều so với tỉ lệ tăng của chi phí nhưng cũng không thé kết luận được mức tăng tuyệt đối của doanh thu cao hơn chỉ phí.
Nhóm thứ tư cho rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện mối quan hệ của sự vận động của chỉ phí để tạo ra được kết quả đó đồng thời phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sản xuất. Ở quan điểm này đã chú ý tới sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh dù vậy lại không dé cập tới hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá qua chỉ phí tuyệt đối hay tương đối. Ở mỗi quan điểm trên đều tồn tại những mặt hạn chế khác nhau, đồng thời cũng có những ý cải thiện cho nhau. Từ đó ta có thé đúc kết đưa ra một quan diém chung cải thiện được tât cả các mặt hạn chê trước giờ.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế mà biểu hiện của nó là sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất nham thực hiện mục tiêu kinh doanh là thu được lợi ích nhiều hơn. Hiệu quả kinh tế mà cụ thể ở đây là hiệu quả sản xuất kinh doanh là loại chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh (KQ) với chi phí cho sản xuất kinh doanh (CP) — hiệu quả sản xuất kinh doanh dạng thuận hoặc là biểu hiện quan hệ so sánh giữa chi phí sản xuất kinh doanh với kết qua sản xuất kinh doanh — hiệu quả sản xuất kinh doanh dạng nghịch. Từ khái niệm trên, ta có thé thay bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay là phản ánh trình động sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là sử dụng hợp lí các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo tốc độ tăng chỉ phí sẽ nhỏ hơn tốc độ tăng kết quả kinh doanh.
Khi nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, SV: Phạm Đức Duy 7 GVHD: TS.Cao Quốc Quang Chuyên đề thực tập tốt nghiệp doanh nghiệp có thể giảm được giá thành từ đó có thể giảm giá bán nhưng vẫn tăng được lợi nhuận, dé có thé tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời cũng sẽ tạo ra giá trị cạnh tranh lớn dần cho doanh nghiệp trong thị trường.2 Phân loại các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh Tùy theo cách phân loại khác nhau sẽ đưa ra những chỉ tiêu hiệu quả khác nhau dựa theo mục tiêu của doanh nghiệp. Từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dé đánh gia hiệu quả kinh doanh cho phù hợp. Thường có 3 cách phân loại như sau: 1.1 Theo lĩnh vực tính - Hiệu quả kinh tế Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực dé có thé đạt được các mục tiêu kinh tế được đề ra.
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội như: + Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. + Xây dựng cơ sở hạ tầng. + Nâng cao mức sống, phúc lợi xã hội, từ đó nâng cao đời sống văn hóa tỉnh thần. + Cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo và nâng cao sức khỏe cho người lao động.
- __ Hiệu quả an ninh quốc phòng Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo các vấn đề về an ninh trật tự trong nước và ngoài nước. - _ Hiệu qua đầu tư Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động sản xuât kinh doanh nhằm đem lại cho các nhà đầu tư các kết quả tốt nhất như mong đợi và lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra ban đầu - Hiệu quả môi trường Phản ánh việc khai thác và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt mục đích tối đa hóa lợi nhuận nhưng vẫn phải xem xét cụ thể chính xác mối tương quan giữa lợi nhuận đạt được và việc đảm bảo vệ sinh môi trường, mức độ ảnh hưởng tới môi trường và điều kiện làm việc của người lao động cũng như dân cư. Trên thực tế rất khó dé có thé đạt được tat cả các mục tiêu hiệu quả như trên nhưng trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phan dau, có gắng dé đạt được. SV: Phạm Đức Duy 8 GVHD: TS.Cao Quốc Quang Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1.2 Theo nội dung tính toán - Hiệu quả tính dưới dạng thuận Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo bằng chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ giữa kết qua đầu ra và chi phí đầu vào, cho thay cứ mỗi don vị chi phí đầu vào sẽ sinh ra bao nhiều đơn vị kết quả đầu ra.
- Hiệu qua tính dưới dạng nghịch Là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh nhưng chỉ tiêu này cho biết để có được một đơn vị kết quả đầu ra cần bao nhiêu chỉ phí đầu vào.3 Theo phạm vi tính - Hiệu quả toàn phần: Tính chung cho toàn bộ kết quả và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực - Hiệu quả đầu tư tăng thêm: Chỉ tính cho phần đầu tư tăng thêm và kết quả tăng thêm của thời kì tính toán 1.4 Theo hình thái biểu hiện - Hiệu quả hiện - Hiệu quả ân Trên thực tế, doanh nghiệp thường chỉ tính hiệu quả sản xuất kinh doanh dưới dạng hiện.3 Phương pháp tính chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng kết hợp rất nhiều yếu tố khác nhau như: lao động, nguồn vốn, tư liệu lao động. Đề đạt tối đa hóa lợi nhuận thì cần phải sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình. Và quan trọng hơn hết khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh cần chính xác, dựa trên cơ sở khoa học. Thống kê phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu một các đầy đủ, hoàn chỉnh, chính xác phản ánh một cách rõ ràng, tổng hợp: vừa phản ánh được mức sinh lợi nhuận, vừa phan ánh được hiệu qua của từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất,.
Đề đảm bao các yêu cầu như trên, thống kê thường sử dụng phương pháp tổng quát dé đánh giá hiệu qua sản xuất kinh doanh với 2 dạng là dạng thuận và dạng nghịch - Dang thuận Két qua dau ra Hiệu quả hoạt động SXKD = (1.1) Chi phí đầu vào Theo như dạng này, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ cho thấy 1 đơn vị chi phí đầu vào tạo ra bao nhiêu đơn vị kêt quả đâu ra. SV: Phạm Đức Duy 9 GVHD: TS.