CHƯƠNG 1 Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu. Cơ sở hình thành đề tài, 123doc 7 mục tiêu, đối tượng nghiên cứu. Xuất phát từ ý tưởng và mục tiêu, nghiên cứu cụ thể hóa các câu hỏi nghiên cứu mà sẽ được làm rõ trong suốt đề tài. Sau cùng là trình bày bố cục của đề tài nghiên cứu.
123doc 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2.1 Các khái niệm Hộ gia đình: là một tế bào của xã hội, là một trong những đơn vị ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất và đầu tư của nền kinh tế. Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình chỉ bao gồm một thành viên hoặc gồm nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ công việc nhà. Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống. Nông hộ: được khái niệm như một hộ gia đình mà các thành viên trong nông hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp.
Sản xuất: là quá trình, thông qua nó các nguồn lực hoặc đầu vào sản xuất được sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể sử dụng được. Các yếu tố đầu vào trong sản xuất là đất, lao động, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công nghệ. Các yếu tố đầu ra trong sản xuất nông nghiệp là các sản phẩm mà sản xuất tạo ra. Vốn, lao động sử dụng trong quá trình sản xuất:Theo thuật ngữ kinh tế, vốn và lao động là hai nguồn lực sản xuất.
Lao động được tính bằng thời gian hoặc số người tham gia lao động, Vốn được xem là một khoản tiền phải trả cho việc sử dụng các dịch vụ, mua nguyên vật liệu trang trải chi phí trong quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là một quá trình được xem như việc sử dụng các nguồn lực để chuyển đổi vật liệu hoặc những sản phẩm dở dang thành sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh để phục vụ cho nhu cầu của con người. Năng suất:Là lượng sản phẩm nông hộ thu được tính trên một đơn vị diện tích. Năng suất phụ thuộc vào lượng đầu vào sử dụng như: giống, thức ăn, hóa chất, thuốc thú y thủy sản, lao động (thuê và lao động gia đình), kinh nghiệm của nông hộ, áp dụng khoa học kỹ thuật,… Hiệu quả:theo nghĩa kinh tế là mối quan hệ giữa đầu vào và các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả 123doc 9 kỹ thuật hoặc theo chi phí gọi là hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả sản xuất được tạo thành bởi ba thành phần: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối: EEi = TEi * AEi. Trong đó EEi, TEi, AEi lần lượt là hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối của nhà sản xuất thứ i. Hiệu quả kỹ thuật:là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước ứng với một trình độ công nghệ nhất định.
Hiệu quả kỹ thuật có thể được tiếp cận theo đầu vào hoặc theo đầu ra. Trong nghiên cứu này tác giả chọn đầu ra (năng suất) làm cơ sở đánh giá hiệu quả kỹ thuật của nông hộ. Hiệu quả phân phối:là sự đo lường hiệu quả phân phối nguồn lực theo hướng tối thiểu hoá chi phí sản xuất có thể được sử dụng để xác định số lượng nguồn lực tối ưu các yếu tố đầu vào theo đó hộ sản xuất có thể tối thiểu hoá chi phí sản xuất nhưng vẫn không làm giảm sút sản lượng đầu ra. Hiệu quả kinh tế: được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế hàng hóa và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác (Thực sự với định nghĩa này về lý thuyết gọi là hiệu quả tài chính).
Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Trước hết là ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, nó vừa là sản phẩm tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, chúng sinh trưởng, phát triển, diệt vong theo các quy luật sinh vật nhất định, và chúng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh (ruộng đất, thời tiết, khí hậu). Con người chỉ tác động tạo ra những điều kiện thuận 123doc 10 lợi để chúng phát triển tốt hơn theo quy luật sinh vật, chứ không thể thay thế theo ý muốn chủ quan được. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả trên góc độ xã hội, tất cả các chi phí và lợi ích đều tính theo giá kinh tế bao gồm cả chi phí hay lợi ích mà dự án hay chương trình tác động vào môi trường.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính là hiệu quả chỉ tính dựa trên góc độ cá nhân, tất cả chi phí và lợi ích đều tính theo giá thị trường. Hiệu quả tài chính trong nông nghiệp được tính như sau: Hiệu quả tài chính trên 1 đơn vị diện tích = Doanh thu trên 1 đơn vị diện tích – Tổng chi phí sản xuất trên 1 đơn vị diện tích.
Trong đó: Doanh thu trên 1 đơn vị diện tích = Giá bán sản phẩm x Sản lượng trên 1 đơn vị diện tích canh tác. Một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính: Tỷ suất lợi nhuận so với doanh thu (mức lợi nhuận trên một đồng doanh thu) Lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận = x 100% Doanh thu Tỷ suất lợi nhuận so với vốn (mức lợi nhuận đạt được trên một đồng vốn). Lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận so với vốn = x 100% Vốn Tối đa hóa lợi nhuận là lợi nhuận thu được nhiều nhất trong các điều kiện ràng buộc nhất định. Tỷ suất lợi nhuận /chi phí - BCR (benefit cost ratio): được tính bằng Lợi nhuận/Chi phí bỏ ra.2 MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT 2.1 Hàm sản xuất Hàm sản xuất là hàm số của lượng các yếu tố đầu vào Y=f(X).
Với Y là đầu ra/sản lượng và X là vecto các yếu tố đầu vào. Hàm sản xuất có nhiều dạng như hàm sản xuất Cobb-Douglas, hàm sản xuất dạng Translog và hàm siêu việt (Transcendental). Hàm sản xuất Cobb-Douglas cho phép kết hợp các đầu vào theo tỷ lệ khác nhau để tạo ra một mức sản lượng theo nhiều cách khác nhau. Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng: Q = f(x1, x2,… xn) Hay Q = A.
X2β … Xn£ Ln hóa hai vế ta có: LnQ = lnA + αln X1 + β ln X2 …+ £ ln Xn + ei Đặt lnA = α0, α = α1, β = α2,… £ =αn. Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng LnQ = α0 + α1ln X1 + α2ln X2 +. Trong đó Q: năng suất (kg) X1 , X2 ,…, Xn là các yếu tố đầu vào (giống, thức ăn, hóa chất, thuốc thú y thủy sản, lao động,…) α0: Là hệ số cho biết % biến động của sản lượng khi có 1% biến động của các yếu tố khác không đưa vào mô hình (dịch bệnh,thiên tai…) trong điều kiện các yếu tố đầu vào trong mô hình không đổi. α1, α2,… αn Là hệ số cho biết % biến động của năng suất khi có 1% biến động của các đầu vào X1 , X2 ,…, Xn trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.
ei: Sai số của mô hình 2.2 Hàm Chi phí Để phản ảnh chi phí sản xuất người ta sử dụng hàm chi phí là hàm số của sản lượng sản xuất ra và giá cả các đầu vào của quá trình sản xuất. Hàm sản xuất như thế nào sẽ quyết định hình dạng của hàm chi phí biến đổi. Nếu giá đầu vào không đổi mọi thông tin hình dạng của hàm chi phí biến đổi xuất phát từ dạng hàm sản xuất. Theo qui luật năng suất cận biên giảm dần có thể phát biểu như sau: hàm sản xuất phản ánh thực tế cứ mỗi đơn vị đầu vào tăng thêm sẽ sản xuất thêm một lượng đầu ra 123doc 12 giảm dần.
Còn hàm chi phí biến đổi phản ánh cứ mỗi đơn vị đầu ra tăng thêm thì chi phí thường cao thêm. Hàm chi phí các yếu tố đầu vào có dạng: C = WkK + WLL .Trong đó: C là chi phí sản xuất. K , L là lượng đầu vào thứ nhất và thứ hai dùng trong sản xuất. Wk , WL là giá của K , L Chi phí bao gồm hai loại là chi phí kinh tế và chi phí kế toán (tính toán).
Chi phí kinh tế được đo bằng giá trị thị trường của các nguồn tài nguyên cần thiết để sản xuất ra hàng hóa. Tài nguyên ở đây không phải chỉ giới hạn ở đất đai, nhà xưởng, nguồn nước mà bao gồm cả vốn, sức của người lao động. Chi phí kế toán là những chi phí bằng tiền mà doanh nghiệp thực sự đã bỏ ra, nó được tính toán thông qua nghiệp vụ kế toán của doanh nghiệp. Chi phí kế toán chỉ bằng chi phí kinh tế khi mà nó tính đủ nhưng thường là chi phí kế toán nhỏ hơn nhiều so với chi phí kinh tế.
Ví dụ hoạt động chăn nuôi: các khoản chi phí được tính tới là tiền thuê đất, xây chuồng trại, chi cho công tác y tế, con giống, thức ăn, vận tải. Các khoản không được tính tới là chất thải thải ra môi trường, chi phí sử dụng nước,… Nói chung các khoản chi phí không được tính tới là chi phí ngoại ứng. Các khoản doanh thu không được tính tới là lợi ích ngoại ứng. Chi phí chia ra làm hai loại là chi phí ngắn hạn và chi phí dài hạn.
chi phí ngắn hạn và chi phí dài hạn phân loại bởi chi phí cố định. Trong giai đoạn mà có ít nhất một chi phí không thay đổi gọi là ngắn hạn như nhà xưởng, máy móc.