CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Khái niệm chung nhất về hiệu quả được đề cập trong nghiên cứu của Cooper và cộng sự (2007) là: Hiệu quả = Đầu ra/ Đầu vào Do vậy, có 2 cách tiếp cận tính hiệu quả đó là: (1) Dùng giá để gộp các đầu ra để thành một thước đo đầu ra duy nhất (doanh thu) và gộp các đầu vào thành một thước đo đầu vào duy nhất (chi phí), Lúc đó: Hiệu quả = lợi nhuận/chi phí = (doanh thu – chi phí)/chi phí = (doanh thu/chi phí) – 1. Đây chính là cách tiếp cận thứ nhất về hiệu quả theo định nghĩa của Cooper và cộng sự (2007). Để đơn giản đây có thể gọi là thước đo HQSX theo cách tiếp cận dựa vào doanh thu và chi phí sản xuất. (2) Dùng lý thuyết biên giới hạn khả năng sản xuất theo lý thuyết hàm sản xuất của kinh tế học vi mô.
Hiện nay, cách tiếp cận phân tích HQSX dựa trên nền tảng lý thuyết hàm sản xuất của kinh tế vi mô, là cách tiếp cận thứ hai về hiệu quả theo định nghĩa của Cooper và cộng sự (2007) đã phát triển rất mạnh và được ứng dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực nghề cá. Cách tiếp cận này của Farrell (1957) sẽ ước lượng chỉ số hiệu quả so sánh giữa các con tàu khai thác tương đồng nên không cần dữ liệu về trữ lượng nguồn lợi. Cách tiếp cận này cũng cho phép tách yếu tố giá ra khỏi chỉ số TE (chỉ số HQSX). Do vậy, việc phân tích chất lượng hoạt động sẽ chính xác hơn và loại bỏ được yếu tố khách quan do giá tạo ra.
Vì vậy, trên thế giới hiện đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các tiếp cận này để phân tích HQSX của nghề cá. Cụ thể, từ những năm 1990, phân tích HQSX của nghề cá đã tập trung vào cách tiếp cận được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế học vi mô, được đề xuất bởi Farrel (1957). Hai phương pháp được sử dụng để phân tích HQSX là: Data Envelopment Analysis (DEA) được đề xuất bởi Charnes và cộng sự (1978) (xem Emrouznejad & Yang, 2018). Và phương pháp Stochastic Frontier Analysis (SFA) được đề xuất bởi Aigner và cộng sự (1977); Meeusen và Broeck (1977) (Coelli & cộng sự, 2005).
Phương pháp DEA, còn được gọi là phương pháp phân tích bao dữ liệu ở một số nghiên cứu trước, dựa trên nền tảng của bài toán quy hoạch tuyến tính (còn gọi là phương pháp phân tích phi tham số). CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI luan an 10 Các nghiên cứu phân tích HQSX của nghề cá theo cách tiếp cận dựa vào doanh thu và chi phí sản xuất tiêu biểu có thể kể đến như: Kurien và Willmann (1982); Turay và Verstralen (1997). Nghiên cứu Kurien và Willmann (1982) đã phân tích HQSX của nghề cá tại Karela, Ấn Độ. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu doanh thu và chi phí sản xuất trong hoạt động nghề cá.
Nghiên cứu đã so sánh sản lượng đánh bắt, chi phí cố định, chi phí biến đổi, doanh thu, lợi nhuận của các nghề khai thác. Tính toán chỉ số khả năng sinh lợi (lợi nhuận trên vốn đầu tư), kết quả nghiên cứu cho thấy hiện khả năng sinh lợi của các hoạt động nghề cá tại Karela là tích cực. Trong khi đó, Turay và Verstralen (1997) phân tích HQSX của các nghề cá tại 9 nước (Benin, Cameroon, Coote, Gambia, Ghana, Mauritania, Nigeria, Senegal). Nghiên cứu đã so sánh chi phí cố định, chi phí biến đổi, sản lượng, lợi nhuận và chỉ số khả năng sinh lợi (lợi nhuận trên vốn đầu tư) của các nghề lưới vây, lưới rê và câu tại các nước.
Kết quả quan trọng của nghiên cứu cho thấy sức hấp dẫn về mặt tài chính của các nghề cá. Tùy vào từng loại nghề, chủ tàu nhận được lợi nhuận khác nhau. Với cách tiếp cận dựa trên doanh thu và chi phí sản xuất này có ưu điểm là dễ tính toán. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một số hạn chế như: i) nhạy cảm với giá đầu ra và đầu vào (do cung cầu của thị trường quyết định và thường xuyên biến động - đây là yếu tố bên ngoài quá trình sản xuất) do vậy đôi khi sẽ làm sai lệch bản chất của sự đánh giá chất lượng hoạt động trong quá trình sản xuất của nghề cá; (ii) không cho thấy rõ các giả thiết về hành vi của người sản xuất (theo nền tảng lý thuyết kinh tế học vi mô) trong các chỉ số tính toán; (iii) nghề cá có đầu vào là trữ lượng nguồn lợi cá - và chúng ta không hạch toán chi phí cho đầu vào này được.
Để phát triển bền vững chất lượng hoạt động của các con tàu cần phải được cải thiện một cách căn cơ và dài hạn. Do vậy, việc áp dụng lý thuyết biên giới hạn khả năng sản xuất của các đội tàu khai thác nhằm tìm kiếm các gợi ý chính sách phát triển các nghề cá xa bờ theo hướng bền vững. Hai phương pháp áp dụng lý thuyết biên giới hạn trong phân tích HQSX của nghề cá là SFA và DEA. Các nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA để phân tích HQSX như: Kirkley và cộng sự (1998); Sharma và Leung (1999); Pascoe và Coglan (2002); Lokina (2009); Kareem và cộng sự (2012); Gbigbi và cộng sự (2014).
Hiện nay, chủ yếu các nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA để đánh giá về chỉ số TE của nghề cá. Ưu điểm của cách tiếp cận SFA là có tính đến sai số ngẫu nhiên trong mô hình. Nhược điểm của cách tiếp cận này là: (i) chỉ cho phép một đầu ra duy nhất; (ii) có khả năng sai sót trong việc lựa luan an 11 chọn sử dụng dạng hàm phân tích; (iii) các ràng buộc về phân phối của sai số và không phải lúc nào cũng đáp ứng được các giả thiết chặt chẽ của kinh tế lượng. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA với biến đầu ra là sản lượng đánh bắt như: nghiên cứu của Kirkley và cộng sự (1998), với biến đầu ra là sản lượng đánh bắt và các biến đầu vào là: số ngày trên biển, số lao động tham gia đánh bắt và trữ lượng nguồn lợi.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự phi hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Tiếp theo, nghiên cứu của Greenville và cộng sự (2006) sử dụng biến đầu ra là sản lượng đánh bắt, nghiên cứu cũng áp dụng phương pháp SFA để phân tích chỉ số TE của đội tàu nghề lưới kéo tại vùng biển bang New South Wales (NSW), Úc. Nghiên cứu đã mô tả các chỉ số HQSX trong nghề cá. Kết quả nghiên cứu chỉ số TE dao động từ 0,30 đến 0,98.
Trung bình chỉ số TE đạt 0,90. Như vậy, các đội tàu lưới kéo tại vùng biển bang NSW đang lãng phí 10% các đầu vào sản xuất (số ngày trên biển, vốn đầu tư, thời gian sử dụng của tàu, chiều dài lưới, công suất máy). Ngoài ra, nghiên cứu của Lokina (2009) nghiên cứu áp dụng phương pháp SFA để phân tích chỉ số TE và xem xét vai trò kỹ năng thuyền trưởng đối với nghề cá thủ công tại Hồ Victoria. Nghiên cứu sử dụng các biến đầu vào đó là số lao động tham gia đánh bắt (kể cả thuyền trưởng); chiều dài lưới (chiều dài mỗi tấm nhân với số lưới rê cho mỗi chuyến biển); tổng số giờ làm việc mỗi chuyến biển đánh bắt; quãng đường đi (khoảng cách đi từ bờ biển tới ngư trường).
Biến đầu ra là tổng sản lượng đánh bắt (kg). Kareem và cộng sự (2012) nghiên cứu phân tích chỉ số TE, của nghề cá nước ngọt thủ công ven bờ Ijebu của Bang Ogun, Nigeria bằng phương pháp SFA. Nghiên cứu sử dụng một biến đầu ra là sản lượng cá đánh bắt (kg). Các đầu vào bao gồm: chiều dài của ngư cụ (m), chiều dài tàu (m), công suất máy, số lao động tham gia đánh bắt, nhiên liệu (lít dầu), số lượng mồi câu, số kg thực phẩm sử dụng cho mỗi chuyến biển, số lượng bin sử dụng trong mỗi chuyến biển, số lượng thùng nhựa, tay chèo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số TE là 0,77. Kết luận rằng có sự khác biệt đáng kể về lợi nhuận và sự phi hiệu quả đã tồn tại trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào đánh bắt cá của ngư dân. Hộ ngư dân muốn nâng cao hiệu quả cần sử dụng tốt hơn các yếu tố đầu vào. Gbigbi và cộng sự (2014) phân tích chỉ số TE nghề cá thủ công tỉnh Niger-Delta, Nigeria bằng phương pháp SFA.
Nghiên cứu sử dụng một biến đầu ra là sản lượng đánh bắt cá của ngư dân. Biến đầu vào là: số lao động tham gia đánh bắt (dựa trên số lượng các chuyến đi đánh cá/tuần), khấu hao tài sản cố định của tàu, ngư cụ và phụ kiện, chi phí nhiên liệu và chất bôi trơn cho mỗi chuyến đi biển, số lượng mồi câu luan an 12 sử dụng. Kết quả nghiên cứu phân tích cho thấy, chỉ số TE trung bình đạt là 64%. Như vậy, chỉ số TE có thể được cải thiện thêm là 36%.
Cần cải thiện công tác đào tạo, tập huấn cho ngư dân, để ngư dân có thể sử dụng tốt hơn với các đầu vào sản xuất. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA với biến đầu ra là doanh thu đánh bắt như: Nghiên cứu của Sharma và Leung (1999) nghiên cứu áp dụng phương pháp SFA phân tích chỉ số TE của nghề câu vàng (Longline) hoạt động tại Hawai, năm 1993. Biến đầu ra là: doanh thu mỗi chuyến biển, các biến đầu vào là: số chuyến khai thác; số lao động tham gia đánh bắt; chi phí biến đổi: dầu, nước đá, mồi câu. chỉ số TE của các tàu được ước tính đạt 84%.
Tàu khai thác với mục tiêu cá kiếm có chỉ số TE thấp hơn tàu có mục tiêu khai thác cá ngừ. Chủ đầu tư tàu đồng thời là thuyền trưởng tàu sẽ cho chỉ số TE cao hơn tàu phải đi thuê thuyền trưởng. Hay nghiên cứu của, Pascoe và Coglan (2002) phân tích chỉ TE bằng phương pháp SFA của nghề lưới kéo eo biển nước Anh. Các đầu vào được sử dụng là: thời gian sử dụng của tàu, số lao động tham gia đánh bắt, trọng tải tàu, công suất tàu, chiều dài tàu, chiều rộng tàu.
Biến đầu ra doanh thu mỗi chuyến biển. Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng 40% tàu hoạt động có chỉ số TE trên 0,8. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA để phân tích HQSX nghề cá, đặc biệt đối với các nghề cá đa ngư loài (Camanho và cộng sự, 2011). Một số nghiên cứu như: Pascoe và cộng sự (2001), Thean và cộng sự (2011), Esmaeili và Omrani (2007), Oliveira và cộng sự (2010), Ceyhan và Gene (2014).