Luận Án Tiến Sĩ Về Hiệu Quả Sản Xuất Nghề Cá Xa Bờ Tại Tỉnh Khánh Hòa

Luận án tiến sĩ phân tích hiệu quả sản xuất nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và tiềm năng phát triển.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

2.2. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.3. KHOẢNG TRỐNG TRONG NGHIÊN CỨU

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA NGHỀ CÁ. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGHỀ CÁ

3.1. Khái niệm nghề cá

3.2. Nghề cá xa bờ tại Việt Nam

3.3. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HQSX VÀ PHÂN TÍCH HQSX CỦA NGHỀ CÁ

3.3.1. Khái niệm và các cách tiếp cận phân tích hiệu quả sản xuất của nghề cá

3.3.2. Nội dung phân tích HQSX của nghề cá

3.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA NGHỀ CÁ XA BỜ

3.4.1. Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên

3.4.2. Nhóm nhân tố đặc điểm sản xuất của đội tàu

3.4.3. Nhóm nhân tố thể chế, chính sách, dịch vụ công

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. KHUNG PHÂN TÍCH CỦA LUẬN ÁN

4.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

4.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

4.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

4.3.1. Số liệu thứ cấp

4.3.2. Số liệu sơ cấp

5. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA NGHỀ CÁ XA BỜ TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

5.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÁ XA BỜ TỈNH KHÁNH HÒA

5.1.1. Đặc điểm đội tàu theo dải công suất

5.1.2. Đặc điểm đội tàu theo nghề

5.1.3. Sản lượng khai thác

5.1.4. Lao động nghề cá

5.1.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá

5.1.6. Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với nghề cá

5.1.7. Những tồn tại và hạn chế của nghề cá tỉnh Khánh Hòa

5.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT

5.2.1. Kết quả phân tích HQSX (khả năng sinh lợi) dựa theo doanh thu và chi phí sản xuất

5.2.2. Kết quả phân tích HQSX (hiệu quả kỹ thuật- TE) theo cách tiếp cận lý thuyết hàm sản xuất

5.2.3. Mối quan hệ giữa chỉ số hiệu quả kỹ thuật với khả năng sinh lợi

5.2.4. Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật (TE)

5.2.5. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào

5.3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

6.1. HÀM Ý CHÍNH SÁCH

6.1.1. Chính sách hỗ trợ dầu

6.1.2. Chính sách nguồn nhân lực

6.1.3. Chính sách khuyến khích liên kết sản xuất

6.1.4. Chính sách tài chính

6.2. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa

Nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Với đường bờ biển dài gần 385 km và vùng biển rộng lớn, Khánh Hòa có tiềm năng lớn cho ngành thủy sản. Ngành này không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm mà còn tạo ra việc làm cho hàng ngàn ngư dân. Tuy nhiên, nghề cá xa bờ cũng đối mặt với nhiều thách thức như cạn kiệt nguồn lợi thủy sản và biến đổi khí hậu. Việc phân tích hiệu quả nghề cá là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Theo Sở NN&PTNT Khánh Hòa, hiện có khoảng 1.300 tàu thuyền lớn hoạt động xa bờ, nhưng hiệu quả khai thác vẫn chưa đạt yêu cầu. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất trong nghề cá là một trong những mục tiêu hàng đầu.

1.1. Tình hình hiện tại của nghề cá xa bờ

Nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa hiện đang phát triển mạnh mẽ với sự hỗ trợ từ chính phủ. Tuy nhiên, nhiều tàu lớn vẫn hoạt động không hiệu quả do thiếu nguồn nhân lực và chi phí đầu vào tăng cao. Theo nghiên cứu của Duy và cộng sự (2015), lợi nhuận chủ yếu đến từ trợ cấp dầu, điều này cho thấy sự phụ thuộc vào chính sách hỗ trợ. Việc này không bền vững trong dài hạn, đòi hỏi các nhà quản lý cần có những giải pháp hiệu quả hơn để phát triển nghề cá một cách bền vững.

II. Phân tích hiệu quả sản xuất của nghề cá

Phân tích hiệu quả sản xuất trong nghề cá là một công cụ quan trọng để đánh giá khả năng sinh lợi và hiệu quả kỹ thuật. Theo lý thuyết của Farrell (1957), có hai cách tiếp cận chính: phân tích dựa trên doanh thu và chi phí, và phân tích dựa trên hàm sản xuất. Cách tiếp cận đầu tiên dễ dàng tính toán và trực quan, nhưng có thể không phản ánh đúng bản chất hoạt động sản xuất. Ngược lại, cách tiếp cận thứ hai cho phép đánh giá hiệu quả kỹ thuật một cách chính xác hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả sản xuất của nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa còn nhiều hạn chế, cần có các biện pháp cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nghề cá xa bờ, bao gồm điều kiện tự nhiên, đặc điểm đội tàu và chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Theo Sở NN&PTNT Khánh Hòa, điều kiện tự nhiên như thời tiết và nguồn lợi thủy sản có ảnh hưởng lớn đến sản lượng khai thác. Đặc điểm đội tàu cũng đóng vai trò quan trọng, với nhiều tàu lớn nhưng thiếu nguồn nhân lực. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước như trợ cấp dầu cũng cần được xem xét để đảm bảo tính bền vững trong phát triển nghề cá.

III. Đề xuất chính sách nâng cao hiệu quả nghề cá

Để nâng cao hiệu quả sản xuất của nghề cá xa bờ tại Khánh Hòa, cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể. Chính sách hỗ trợ dầu cần được điều chỉnh để giảm bớt sự phụ thuộc của ngư dân vào trợ cấp. Đồng thời, cần có các chương trình đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao kỹ năng cho ngư dân. Việc khuyến khích liên kết sản xuất giữa các ngư dân cũng là một giải pháp hiệu quả. Theo nghiên cứu, việc áp dụng công nghệ mới trong đánh bắt cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Các chính sách này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả kinh tế mà còn bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững.

3.1. Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực

Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho ngư dân về kỹ thuật đánh bắt và quản lý tài nguyên. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực sản xuất mà còn tạo ra một lực lượng lao động có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của nghề cá hiện đại. Theo các chuyên gia, việc đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho ngành thủy sản tại Khánh Hòa.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ phân tích hiệu quả sản xuất của nghề cá xa bờ nghiên cứu thực nghiệm cho tỉnh khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Khái niệm chung nhất về hiệu quả được đề cập trong nghiên cứu của Cooper và cộng sự (2007) là: Hiệu quả = Đầu ra/ Đầu vào Do vậy, có 2 cách tiếp cận tính hiệu quả đó là: (1) Dùng giá để gộp các đầu ra để thành một thước đo đầu ra duy nhất (doanh thu) và gộp các đầu vào thành một thước đo đầu vào duy nhất (chi phí), Lúc đó: Hiệu quả = lợi nhuận/chi phí = (doanh thu – chi phí)/chi phí = (doanh thu/chi phí) – 1. Đây chính là cách tiếp cận thứ nhất về hiệu quả theo định nghĩa của Cooper và cộng sự (2007). Để đơn giản đây có thể gọi là thước đo HQSX theo cách tiếp cận dựa vào doanh thu và chi phí sản xuất. (2) Dùng lý thuyết biên giới hạn khả năng sản xuất theo lý thuyết hàm sản xuất của kinh tế học vi mô.

Hiện nay, cách tiếp cận phân tích HQSX dựa trên nền tảng lý thuyết hàm sản xuất của kinh tế vi mô, là cách tiếp cận thứ hai về hiệu quả theo định nghĩa của Cooper và cộng sự (2007) đã phát triển rất mạnh và được ứng dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực nghề cá. Cách tiếp cận này của Farrell (1957) sẽ ước lượng chỉ số hiệu quả so sánh giữa các con tàu khai thác tương đồng nên không cần dữ liệu về trữ lượng nguồn lợi. Cách tiếp cận này cũng cho phép tách yếu tố giá ra khỏi chỉ số TE (chỉ số HQSX). Do vậy, việc phân tích chất lượng hoạt động sẽ chính xác hơn và loại bỏ được yếu tố khách quan do giá tạo ra.

Vì vậy, trên thế giới hiện đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các tiếp cận này để phân tích HQSX của nghề cá. Cụ thể, từ những năm 1990, phân tích HQSX của nghề cá đã tập trung vào cách tiếp cận được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế học vi mô, được đề xuất bởi Farrel (1957). Hai phương pháp được sử dụng để phân tích HQSX là: Data Envelopment Analysis (DEA) được đề xuất bởi Charnes và cộng sự (1978) (xem Emrouznejad & Yang, 2018). Và phương pháp Stochastic Frontier Analysis (SFA) được đề xuất bởi Aigner và cộng sự (1977); Meeusen và Broeck (1977) (Coelli & cộng sự, 2005).

Phương pháp DEA, còn được gọi là phương pháp phân tích bao dữ liệu ở một số nghiên cứu trước, dựa trên nền tảng của bài toán quy hoạch tuyến tính (còn gọi là phương pháp phân tích phi tham số). CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI luan an 10 Các nghiên cứu phân tích HQSX của nghề cá theo cách tiếp cận dựa vào doanh thu và chi phí sản xuất tiêu biểu có thể kể đến như: Kurien và Willmann (1982); Turay và Verstralen (1997). Nghiên cứu Kurien và Willmann (1982) đã phân tích HQSX của nghề cá tại Karela, Ấn Độ. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu doanh thu và chi phí sản xuất trong hoạt động nghề cá.

Nghiên cứu đã so sánh sản lượng đánh bắt, chi phí cố định, chi phí biến đổi, doanh thu, lợi nhuận của các nghề khai thác. Tính toán chỉ số khả năng sinh lợi (lợi nhuận trên vốn đầu tư), kết quả nghiên cứu cho thấy hiện khả năng sinh lợi của các hoạt động nghề cá tại Karela là tích cực. Trong khi đó, Turay và Verstralen (1997) phân tích HQSX của các nghề cá tại 9 nước (Benin, Cameroon, Coote, Gambia, Ghana, Mauritania, Nigeria, Senegal). Nghiên cứu đã so sánh chi phí cố định, chi phí biến đổi, sản lượng, lợi nhuận và chỉ số khả năng sinh lợi (lợi nhuận trên vốn đầu tư) của các nghề lưới vây, lưới rê và câu tại các nước.

Kết quả quan trọng của nghiên cứu cho thấy sức hấp dẫn về mặt tài chính của các nghề cá. Tùy vào từng loại nghề, chủ tàu nhận được lợi nhuận khác nhau. Với cách tiếp cận dựa trên doanh thu và chi phí sản xuất này có ưu điểm là dễ tính toán. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một số hạn chế như: i) nhạy cảm với giá đầu ra và đầu vào (do cung cầu của thị trường quyết định và thường xuyên biến động - đây là yếu tố bên ngoài quá trình sản xuất) do vậy đôi khi sẽ làm sai lệch bản chất của sự đánh giá chất lượng hoạt động trong quá trình sản xuất của nghề cá; (ii) không cho thấy rõ các giả thiết về hành vi của người sản xuất (theo nền tảng lý thuyết kinh tế học vi mô) trong các chỉ số tính toán; (iii) nghề cá có đầu vào là trữ lượng nguồn lợi cá - và chúng ta không hạch toán chi phí cho đầu vào này được.

Để phát triển bền vững chất lượng hoạt động của các con tàu cần phải được cải thiện một cách căn cơ và dài hạn. Do vậy, việc áp dụng lý thuyết biên giới hạn khả năng sản xuất của các đội tàu khai thác nhằm tìm kiếm các gợi ý chính sách phát triển các nghề cá xa bờ theo hướng bền vững. Hai phương pháp áp dụng lý thuyết biên giới hạn trong phân tích HQSX của nghề cá là SFA và DEA. Các nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA để phân tích HQSX như: Kirkley và cộng sự (1998); Sharma và Leung (1999); Pascoe và Coglan (2002); Lokina (2009); Kareem và cộng sự (2012); Gbigbi và cộng sự (2014).

Hiện nay, chủ yếu các nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA để đánh giá về chỉ số TE của nghề cá. Ưu điểm của cách tiếp cận SFA là có tính đến sai số ngẫu nhiên trong mô hình. Nhược điểm của cách tiếp cận này là: (i) chỉ cho phép một đầu ra duy nhất; (ii) có khả năng sai sót trong việc lựa luan an 11 chọn sử dụng dạng hàm phân tích; (iii) các ràng buộc về phân phối của sai số và không phải lúc nào cũng đáp ứng được các giả thiết chặt chẽ của kinh tế lượng. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA với biến đầu ra là sản lượng đánh bắt như: nghiên cứu của Kirkley và cộng sự (1998), với biến đầu ra là sản lượng đánh bắt và các biến đầu vào là: số ngày trên biển, số lao động tham gia đánh bắt và trữ lượng nguồn lợi.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự phi hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Tiếp theo, nghiên cứu của Greenville và cộng sự (2006) sử dụng biến đầu ra là sản lượng đánh bắt, nghiên cứu cũng áp dụng phương pháp SFA để phân tích chỉ số TE của đội tàu nghề lưới kéo tại vùng biển bang New South Wales (NSW), Úc. Nghiên cứu đã mô tả các chỉ số HQSX trong nghề cá. Kết quả nghiên cứu chỉ số TE dao động từ 0,30 đến 0,98.

Trung bình chỉ số TE đạt 0,90. Như vậy, các đội tàu lưới kéo tại vùng biển bang NSW đang lãng phí 10% các đầu vào sản xuất (số ngày trên biển, vốn đầu tư, thời gian sử dụng của tàu, chiều dài lưới, công suất máy). Ngoài ra, nghiên cứu của Lokina (2009) nghiên cứu áp dụng phương pháp SFA để phân tích chỉ số TE và xem xét vai trò kỹ năng thuyền trưởng đối với nghề cá thủ công tại Hồ Victoria. Nghiên cứu sử dụng các biến đầu vào đó là số lao động tham gia đánh bắt (kể cả thuyền trưởng); chiều dài lưới (chiều dài mỗi tấm nhân với số lưới rê cho mỗi chuyến biển); tổng số giờ làm việc mỗi chuyến biển đánh bắt; quãng đường đi (khoảng cách đi từ bờ biển tới ngư trường).

Biến đầu ra là tổng sản lượng đánh bắt (kg). Kareem và cộng sự (2012) nghiên cứu phân tích chỉ số TE, của nghề cá nước ngọt thủ công ven bờ Ijebu của Bang Ogun, Nigeria bằng phương pháp SFA. Nghiên cứu sử dụng một biến đầu ra là sản lượng cá đánh bắt (kg). Các đầu vào bao gồm: chiều dài của ngư cụ (m), chiều dài tàu (m), công suất máy, số lao động tham gia đánh bắt, nhiên liệu (lít dầu), số lượng mồi câu, số kg thực phẩm sử dụng cho mỗi chuyến biển, số lượng bin sử dụng trong mỗi chuyến biển, số lượng thùng nhựa, tay chèo.

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số TE là 0,77. Kết luận rằng có sự khác biệt đáng kể về lợi nhuận và sự phi hiệu quả đã tồn tại trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào đánh bắt cá của ngư dân. Hộ ngư dân muốn nâng cao hiệu quả cần sử dụng tốt hơn các yếu tố đầu vào. Gbigbi và cộng sự (2014) phân tích chỉ số TE nghề cá thủ công tỉnh Niger-Delta, Nigeria bằng phương pháp SFA.

Nghiên cứu sử dụng một biến đầu ra là sản lượng đánh bắt cá của ngư dân. Biến đầu vào là: số lao động tham gia đánh bắt (dựa trên số lượng các chuyến đi đánh cá/tuần), khấu hao tài sản cố định của tàu, ngư cụ và phụ kiện, chi phí nhiên liệu và chất bôi trơn cho mỗi chuyến đi biển, số lượng mồi câu luan an 12 sử dụng. Kết quả nghiên cứu phân tích cho thấy, chỉ số TE trung bình đạt là 64%. Như vậy, chỉ số TE có thể được cải thiện thêm là 36%.

Cần cải thiện công tác đào tạo, tập huấn cho ngư dân, để ngư dân có thể sử dụng tốt hơn với các đầu vào sản xuất. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA với biến đầu ra là doanh thu đánh bắt như: Nghiên cứu của Sharma và Leung (1999) nghiên cứu áp dụng phương pháp SFA phân tích chỉ số TE của nghề câu vàng (Longline) hoạt động tại Hawai, năm 1993. Biến đầu ra là: doanh thu mỗi chuyến biển, các biến đầu vào là: số chuyến khai thác; số lao động tham gia đánh bắt; chi phí biến đổi: dầu, nước đá, mồi câu. chỉ số TE của các tàu được ước tính đạt 84%.

Tàu khai thác với mục tiêu cá kiếm có chỉ số TE thấp hơn tàu có mục tiêu khai thác cá ngừ. Chủ đầu tư tàu đồng thời là thuyền trưởng tàu sẽ cho chỉ số TE cao hơn tàu phải đi thuê thuyền trưởng. Hay nghiên cứu của, Pascoe và Coglan (2002) phân tích chỉ TE bằng phương pháp SFA của nghề lưới kéo eo biển nước Anh. Các đầu vào được sử dụng là: thời gian sử dụng của tàu, số lao động tham gia đánh bắt, trọng tải tàu, công suất tàu, chiều dài tàu, chiều rộng tàu.

Biến đầu ra doanh thu mỗi chuyến biển. Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng 40% tàu hoạt động có chỉ số TE trên 0,8. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA để phân tích HQSX nghề cá, đặc biệt đối với các nghề cá đa ngư loài (Camanho và cộng sự, 2011). Một số nghiên cứu như: Pascoe và cộng sự (2001), Thean và cộng sự (2011), Esmaeili và Omrani (2007), Oliveira và cộng sự (2010), Ceyhan và Gene (2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Luận Án Tiến Sĩ Về Hiệu Quả Sản Xuất Nghề Cá Xa Bờ Tại Tỉnh Khánh Hòa" của tác giả Nguyễn Đăng Đức, dưới sự hướng dẫn của GS-TS Trương Bá Thanh và PGS-TS Lê Kim Long, tập trung vào việc phân tích hiệu quả của nghề cá xa bờ tại tỉnh Khánh Hòa. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề cá, mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao năng suất và phát triển bền vững cho ngành thủy sản tại khu vực này. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa sản xuất và quản lý nguồn lợi thủy sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị và Hiệu Quả Sản Xuất Cá Tra Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long", nơi phân tích chuỗi giá trị trong sản xuất cá tra, hay "Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam", cung cấp cái nhìn tổng quát về phát triển bền vững trong ngành thủy sản. Cuối cùng, bài viết "So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau và hiệu quả của chúng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về ngành thủy sản tại Việt Nam.