LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dù là một nền kinh tế còn non trẻ, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, TTCK Việt Nam cũng đã đóng góp không nhỏ cho hoạt động kinh tế của đất nƣớc. Mọi biến động trên TTCK Việt Nam đều đƣợc phản ánh thông qua bối cảnh nền kinh tế nƣớc ta, vì đây là phƣơng tiện dẫn vốn quan trọng, cũng là kênh đầu tƣ tiềm năng của công chúng. Với tính thanh khoản cao, khả năng tập trung phân phối vốn, điều chuyển thời hạn vốn sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển chung mà nhờ có TTCK, các nguồn lực tài chính có thể đƣợc huy động linh hoạt mà không phải chịu áp lực về lạm phát, nhất là khi nguồn vốn đầu tƣ khu vực của Nhà nƣớc còn nhiều hạn chế.
Không chỉ vậy, TTCK còn đƣợc coi là một chiếc bình phong vũ tiêu biểu của nền kinh tế. Giá cổ phiếu và trái phiếu đƣợc xem nhƣ là thƣớc đo mức độ kì vọng của xã hội. TTCK Việt Nam đã hỗ trợ rất tốt cho hoạt động niêm yết các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Cùng với hệ thống tín dụng ngân hàng, TTCK góp phần tạo ra một cơ cấu thị trƣờng vốn Việt Nam cân đối hơn, hiệu quả hơn, hỗ trợ mạnh cho nền kinh tế.
Năm 2021, mặc dù bị ảnh hƣởng bởi dịch bệnh, TTCK Việt Nam vẫn ghi nhận những kết quả ấn tƣợng. Chỉ số VN-Index và các chỉ số chứng khoán chính trên sàn HSX liên tục chạm đến những đỉnh mới, chỉ số VN-Index đạt hơn 1500 điểm tại ngày 25/11/2021. Đây cũng chính là khoảnh khắc VN-Index chạm nóc cao nhất trong 21 năm hoạt động. Cùng với đó, thanh khoản thị trƣờng tăng vọt.
Giá trị vốn hóa niêm yết tăng 43,06% so với cuối năm 2020, đạt hơn 5,8 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên cùng với nhịp phát triển lớn mạnh của TTCK thì các CTCK cũng phải đối mặt với không ít cản trở. Số lƣợng những NĐT chuyên nghiệp, hiểu biết sâu rộng thật sự không nhiều và bắt đầu xuất hiện những “nhà đầu tƣ F0” với nguồn tiền nhàn dỗi đổ vào chứng khoán do ảnh hƣởng của dịch COVID-19. Cụ thể, năm 2021, số lƣợng tài khoản mới của các NĐT trung bình là 100.000 tài khoản chỉ trong một tháng.
Vì vậy việc nâng cao chất lƣợng hoạt động môi giới cho các NĐT của CTCK là vô 1 cùng thiết yếu, nhất là với những NĐT mới bƣớc chân vào con đƣờng này. HQHĐ MGCK bị tác động bởi nhiều nhân tố, gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan. Bởi vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán của CTCP Chứng khoán Trí Việt”. Ngoài ra tác giả còn muốn làm rõ hơn vai trò và ý nghĩa của công việc MGCK của công ty, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động này cũng nhƣ tăng lợi nhuận và giá trị của công ty, giúp công ty thu hút các NĐT, tạo sự uy tín và xây dựng hình ảnh thƣơng hiệu cho công ty.
Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa, xây dựng cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến HQHĐ MGCK tại CTCP Chứng khoán Trí Việt. Phân tích, đánh giá mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố ảnh hƣởng đến HQHĐ MGCK tại CTCP Chứng khoán Trí Việt. Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện HQHĐ MGCK tại CTCP Chứng khoán Trí Việt. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tƣợng nghiên cứu Thực trạng HQHĐ MGCK tại CTCP Chứng khoán Trí Việt và các nhân tố ảnh hƣởng đến nó. Đối tƣợng khảo sát: Các nhân viên trong khối môi giới của CTCP Chứng khoán Trí Việt. Phạm vi nghiên cứu Về không gian, bài nghiên cứu thực hiện khảo sát tại CTCP Chứng khoán Trí Việt, trụ sở chính tại Hà Nội. 2 Về thời gian, dữ liệu đƣợc tổng hợp từ các loại báo cáo của công ty giai đoạn 2017 - 2021.
Ngoài ra, dữ liệu phục vụ bài nghiên cứu đƣợc khảo sát trong giai đoạn tháng 3-2022 đến tháng 4-2022. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng 03 phƣơng pháp chính: Phƣơng pháp điều tra: Tiến hành khảo sát nhân viên làm việc và một số KH của TVB thông qua bảng hỏi. Sau đó dùng Excel để tổng hợp và lọc các phiếu điều tra thu đƣợc dùng để xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến HQHĐ môi giới của công ty. Phƣơng pháp so sánh: Bằng việc đánh giá, so sánh các chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu, chi phí, giá trị giao dịch giữa CTCP Chứng khoán Trí Việt với các CTCK khác, tác giả đánh giá chất lƣợng HQHĐ môi giới của Trí Việt trên TTCK.
Phƣơng pháp phân tích: Sau khi tổng hợp số liệu và ý kiến từ khảo sát, tác giả tiến hành phân tích tình hình tài chính, thực trạng cũng nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến HQHĐ MGCK tại công ty. Kết cấu khóa luận Bài khóa luận gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2: Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản của hoạt động môi giới 1. Khái niệm MGCK hay brokerage là thuật ngữ quen thuộc với hầu hết NĐT chứng khoán.
Trong cách đầu tƣ truyền thống, môi giới có vai trò rất quan trọng, là trung gian thực hiện các giao dịch mua/bán của NĐT. Theo Khoản 29 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, "Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho KH". Giáo trình “Thị trƣờng chứng khoán”, Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2007 định nghĩa “Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho KH để hƣởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho KH tiến hành giao dịch thông cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trƣờng OTC mà chính KH phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của chính mình”.
Nhƣ vậy, CTCK sẽ thực hiện lệnh cho KH và đƣợc hƣởng hoa hồng từ hoạt động đó. Số tiền hoa hồng môi giới đƣợc tính trên tỷ lệ phần trăm doanh số mua, bán đã thực hiện cho KH. Vai trò của hoạt động MGCK trong CTCK Trong CTCK, hoạt động môi giới là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất. CTCK là nơi hoạt động MGCK diễn ra, đây cũng là nơi đảm bảo các điều kiện vật chất bao gồm: địa điểm giao dịch, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch chứng khoán… Do đó, hoạt động MGCK có vai trò hết sức quan trọng.
Hoạt động MGCK giúp kết nối các NĐT với nhau và góp phần phát triển TTCK và nền kinh tế. Hoạt động MGCK giúp giảm thiểu chi phí giao dịch nhờ lợi thế chuyên môn hoá. Trong thị trƣờng nói chung và TTCK nói riêng thì ngƣời mua và ngƣời bán muốn tiến hành giao dịch thì phải gặp gỡ, trao đổi, thẩm định chất lƣợng hàng hóa và giá cả. Tuy nhiên, giao dịch chứng khoán là giao dịch tài sản vô hình, do vậy rất khó khăn cho 4 ngƣời mua và ngƣời bán có nhu cầu phù hợp về khối lƣợng, giá cả, điều khoản mua bán tìm kiếm, và trao đổi chứng khoán với nhau cũng nhƣ hoàn chỉnh các giao dịch, thanh toán và chuyển giao chứng khoán với chi phí thấp.
Do đó, để tìm kiếm đƣợc ngƣời mua và ngƣời bán và thẩm định chất lƣợng hàng hóa thì cần phải có một khoản chi phí khổng lồ để tiến hành thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên thị trƣờng. Với đặc điểm đó, TTCK đòi hỏi phải có các nhà MGCK có trình độ để tìm kiếm đối tác và hỗ trợ thực hiện giao dịch mua bán với chứng khoán với chi phí thấp. Ngoài ra, hoạt động MGCK góp phần phát triển sản phẩm và dịch vụ trên TTCK. Thông qua quá trình làm trung gian giữa ngƣời mua và ngƣời bán, nhân viên MGCK có thể nắm bắt đƣợc nhu cầu của KH và phản ánh với ngƣời cung cấp sản phẩm, dịch vụ.
Từ đó đa dạng hóa số lƣợng sản phẩm, nâng cao chất lƣợng dịch vụ, lôi kéo ngày càng nhiều KH và thu hút nguồn vốn đầu tƣ dồi dào làm tăng trƣởng kinh tế xã hội. Hoạt động MGCK góp phần hình thành nền văn hoá đầu tƣ dựa trên chức năng, đặc điểm riêng của mình. Trƣớc đây, khi môi trƣờng đầu tƣ còn thô sơ thì ngƣời dân chƣa có thói quen sử dụng tiền để đầu tƣ vào các tài sản tài chính để sinh lợi. Chính vì vậy, để thu hút ngƣời dân đầu tƣ, hoạt động MGCK ra đời, nhà môi giới sẽ tiếp cận với KH tiềm năng và thực hiện đáp ứng nhu cầu của họ bằng các sản phẩm tài chính phù hợp, cung cấp cho KH những kiến thức, thông tin mới nhất để thuyết phục KH mở tài khoản và tham gia đầu tƣ chứng khoán.
Hoạt động này dần dần sẽ giúp cho ngƣời dân có đƣợc những hiểu biết và kinh nghiệm đầu tƣ chứng khoán, cũng nhƣ hình thành các kỹ năng dự đoán, lựa chọn và phối hợp các sản phẩm phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro nhờ đó có thể thu lợi lớn. Cuối cùng hoạt động MGCK cũng góp phần cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trƣờng. Các thông tin có thể cung cấp bao gồm về thông tin về các cổ phiếu, thông tin giao dịch, tổ chức phát hành, dữ liệu ngành và doanh nghiệp, từ 5 đó, cơ quan quản lý thị trƣờng có cơ sở dữ liệu tham khảo để có các biện pháp điều chỉnh thị trƣờng hợp lý. Hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 1.
Quan điểm về hiệu quả hoạt động môi giới Theo lý thuyết hiệu quả, nhà kinh tế xã hội học ngƣời - Vifredo Pareto (1906) nêu rằng, “Với nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhƣng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi”. Điều này trong nền kinh tế có ý nghĩa tƣơng đƣơng với mục tiêu lợi nhuận tối đa.