CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG. Một số thuật ngữ trong chứng khoán.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán. - Theo Điều 6 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội thì: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thê hiện đưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi số hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cô phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; c) Hợp đồng góp vốn đầu tư; d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.” - Thị trường chứng khoán (Securities Market) là nơi trao đổi các chứng khoán.
Thị trường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy động được vốn và người có vốn chuyển vốn của mình thành vốn đầu tư. Vì thế, thị trường chứng khoán còn được gọi là thị trường vốn. - Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ là thứ có tỷ trọng giao dịch áp đảo trên các thị trường chứng khoán. Còn ở những nền kinh tế nơi mà thị trường chứng khoán mới được thành lập thì loại chứng khoán cỗ phần lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn.
Tại phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ hiểu chứng khoán chỉ là các chứng khoán cô phần (cô phiếu) và thị trường chứng khoán chỉ là thị trường giao dịch các cỗ phiếu của các công ty. Giá chứng khoán. - Mệnh giá: Là số tiền ghi trên tờ cô phiếu khi phát hành. Hiện nay, theo quy định tại Việt Nam thì mỗi cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung có mệnh giá là 10.
- Thị giá: Là giá thị trường của các loại chứng khoán được mua-bán trên thị trường glao dịch tập trung. Ví dụ: Mệnh giá của cô phiếu VCB là 10.000 đồng, nhưng giá thị trường hiện tại của cổ phiếu VCB vào thời điểm ngày 02/07/2015 là 51. 4 - Giá niêm yết: Là mức giá của cô phiếu được thực hiện trong phiên giao dịch đầu tiên khi được niêm yết trên thị trường chứng khoán và được hình thành dựa trên quan hệ cung — cầu trên thị trường. - Giá khớp lệnh: Là mức giá được xác định từ kết quả khớp lệnh của Trung tâm giao dịch chứng khoán, thỏa mãn được tối đa nhu cầu của người mua và người bán chứng khoán.
- Giá đóng cửa: Là giá thực hiện tại lần giao dịch cuối cùng trong ngày giao dịch. - Giá mở cửa: Là giá thực hiện tại lần khớp lệnh đầu tiên trong ngày giao dịch. - Giá tham chiếu: Là mức giá làm cơ sở trong việc tính giới hạn dao động giá chứng khoán trong phiên giao dịch. Tại thị trường chứng khoán Việt Nam thì giá tham chiếu của một ngày giao dịch cũng chính là giá đóng cửa của ngày giao dịch liền trước đó.
- Biên độ dao động giá: Là giới hạn giá chứng khoán có thê biến đổi tối đa trong ngày giao dich. - Giá trần: Là giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong ngày giao dich. Giá trần = Giá tham chiếu x (1 + Biên độ dao động giá) - Giá sàn: Là giá thấp nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong ngày giao dich. Giá san = Giá tham chiếu x (1 — Biên độ dao động giá).
Một số thuật ngữ khác được dùng. - Báo cáo phân tích nhanh là các báo cáo phân tích cung cấp ngắn gọn nhưng đầy đủ thông tin về tình hình doanh nghiệp. Báo cáo được lập khi khách hàng yêu cầu, và phải được phát hành trong 24-48 tiếng. - Chi phí dự phòng là phần tiền để dự phòng cho các rủi ro trong kinh doanh (Tại khóa luận này là phần tiền Ngân hàng dùng để tự phòng cho việc phân loại nợ của mình).
- Thu nhập từ lãi là phần tiền vượt vốn mình thu lại được từ hoạt động cho vay. - Chỉ số NIM. Thu nhập từ lãi biên %(NIM__Net interest margin) = (Thu nhập cho vay và dau tu CK - Chỉ trả lãi tiền gửi và nợ khác)/ tông tài sản có sinh lời bình quân((cuối kỳ + đầu kỳ)/2). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được tính bằng cách chia phần thu nhập từ lãi cho thu nhập tài sản bình quân.
Theo như đánh giá của Sé&P thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tô 5 chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố. Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản Nợ - Có trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại. - Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tâu tán tài sản.
Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Tỷ lệ nợ xấu là chỉ số giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng. Chỉ số này đưới 3% thì là bình thường, lớn hơn 3% được xem là cao. - Chỉ số PE là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư.
Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPS Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cô đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cô phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cô phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cỗ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cỗ tức cao. - Chỉ số PB là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cỗ phiếu SO với giá trị ghi số của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cô phiếu chia cho giá trị ghi số tại quý gần nhất của cô phiếu đó. Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cỗ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua.
Nếu một doanh nghiệp đang bán cô phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi số của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị 6 trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cô phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật. Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cô đông. Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cô phiếu cao hơn giá trị ghi sé thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.
Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi số của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác đo công ty tạo ra. Giá trị ghi số không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn. Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
Phân tích chứng khoán là nhu cầu không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán. Tùy theo khả năng trình độ, thời gian cũng như nhu cầu sử dụng, có thể có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu, phân tích và ra các quyết định đầu tư khác nhau đối với từng chứng khoán riêng lẻ hoặc đối với cả danh mục đầu tư. Cổ phiếu là một loại chứng khoán chủ yếu cần phân tích phục vụ đầu tư. Đến nay người ta đã tổng kết lại rằng có hai phương pháp phân tích đã và đang được sử dụng một cách phổ biến tại hầu hết các thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới, đó là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
Trong đó, phân tích cơ bản về thực chất là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành chứng khoán. Hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả cổ phiếu được niêm yết và giao dịch trên thị trường. Khác với phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật dựa vào các diễn biến của giá cả chứng khoán và khối lượng giao dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế biến đổi của giá cả chứng khoán trong tương lai.