Mở đầu. Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Nội dung chương 2 tập trung vào trình bày những khái niệm, các lý thuyết có liên quan, các nghiên cứu trước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình và cách thức chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nêu thực trạng tình hình quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và phát triển cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Kết quả nghiên cứu các dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su giai đoạn 2008-2014 và dự án trồng cao su từ trước năm 2008 đang trong giai đoạn khai thác.
Phân tích thống kê mô tả mẫu khảo sát, mô tả đối tượng tham gia trả lời phỏng vấn; phân tích hiệu quả kinh tế của việc giữ rừng tự nhiên nghèo kiệt và hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi sang trồng cao su, đồng thời so sánh hiệu quả của 2 mô hình; phân tích kết quả phỏng vấn sâu. Phân tích mô phỏng các tình huống có thể xảy ra theo thực tế để ước lượng hiệu quả kinh tế của đất rừng tự nhiên nghèo kiệt sau chuyển đổi sang trồng cao su khi các điều kiện cung – cầu thay đổi (giá thay đổi, sản lượng biến động, các yếu tố chi phí đầu vào biến đổi). Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách Nêu những nhận xét qua kết quả nghiên cứu đưa ra những kết luận và đề xuất các khuyến nghị chính sách. Đồng thời, phần cuối chương cũng nêu lên hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.
SVTH: Nguyễn Đức Hương 4 Luận văn Thạc sĩ kinh tế GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này nêu những khái niệm cơ bản về đất đai, rừng và lâm phần, hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cây cao su; đồng thời nêu một số quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc chuyển trồng cao su trên đất rừng, tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, làm cơ sở để phân tích ở chương sau.1 Khái niệm về đất đai Nguyễn Hữu Ngữ (2010), khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai được Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 xác định như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Theo Quốc hội Việt Nam (1993), Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định: đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàngđầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Các chức năng cơ bản của đất đai Đất đai có nhiều chức năng, trong đó có các chức năng cơ bản như: Chức năng sản xuất, chức năng môi trường sống, chức năng cân bằng sinh thái, chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước, chức năng dự trữ (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010).
Tính chất đặc biệt của đất đai Theo Nguyễn Hữu Ngữ (2010), đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác, thể hiện như: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động; khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai trở thành tư liệu sản xuất. Đất đai là tài nguyên bị hạn chế về số SVTH: Nguyễn Đức Hương 5 Luận văn Thạc sĩ kinh tế GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc lượng, bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu. Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá.
Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian), nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông- lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất; khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có giá trị đặc biệt), không tư liệu sản xuất nào có được. Từ các tính chất trên, có thể nhận thấy: Đất đai là một nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng không thay đổi vị trí, không gia tăng về số lượng mà chỉ có thể thay đổi về chất lượng (độ phì nhiêu) và thay đổi từ sử dụng cho mục đích này sang sử dụng cho mục đích khác. Phân loại đất Theo Quốc hội Việt Nam (2003, 2013), Luật Đất đai 2003 và 2013 đã phân đất đai thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác (Khoản 1, Điều 13 Luật Đất đai 2003 và Khoản 1, Điều 10 Luật Đất đai 2013). Khái niệm về rừng Có nhiều khái niệm về rừng khác nhau qua từng thời kỳ, càng về sau thì khái niệm về rừng được nghiên cứu, bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn. Một số khái niệm cần quan tâm như: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý (Morozov, 1930; trích bởi Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông, 2008).
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của SVTH: Nguyễn Đức Hương 6 Luận văn Thạc sĩ kinh tế GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài (M. Tcachenco, 1952; trích bởi Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông, 2008).
Theo Quốc hội Việt Nam (2004), rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng, số 29/2004/QH11). Như vậy, từ khái niệm về rừng nêu trong trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Việt Nam như trên, có thể thấy rằng: Cây cao su trồng trên đất rừng được hiểu là rừng cao su vì cây cao su là cây thân gỗ, thường được trồng tập trung và có độ che phủ lớn hơn 0,1 khi cây bắt đầu khép tán. Bên cạnh đó, theo Bộ NN&PTNT (2011), rừng cao su diện tích lớn hơn hoặc bằng 0,5 ha và có chiều rộng dải cây lớn hơn 20 m với hơn 3 hàng cây sẽ được hiểu là rừng cao su trồng tập trung; ngoài ra, Bộ NN&PTNT (2011) qui định cao su được trồng trên các loại đất khác (không phải là đất rừng hoặc không đủ tiêu chuẩn để phân loại thành rừng) được hiểu là vườn cây cao su hoặc trang trại cao su (Đặng Việt Quang và cộng sự, 2014).
Phân loại rừng Theo Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông (2008), căn cứ vào nguồn gốc người ta chia rừng thành 3 loại: Rừng tự nhiên, rừng nhân tạo có nguồn gốc từ người trồng, rừng từ hạt (rừng được trồng từ hạt) và rừng tái sinh từ chồi (rừng được hình thành sau khai thác, mọc từ gốc chặt hoặc thân ngầm); căn cứ theo chức năng và ý nghĩa kinh tế, rừng được phân thành 4 loại: Rừng kinh tế, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng nửa phòng hộ. Theo Quốc hội Việt Nam (2004), Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân rừng thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất: + Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên SVTH: Nguyễn Đức Hương 7 Luận văn Thạc sĩ kinh tế GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc nhiên, gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài- sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan, gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. + Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường.
+ Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Rừng sản xuất là rừng trồng; Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.